Con đường dệt đầy hình ảnh, âm điệu, màu sắc của việc nghiên cứu và tìm hiểu về trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã dẫn đưa chúng tôi tìm đến họa sĩ Lê Phổ.
Hôm ấy là một buổi sáng vào tháng 10 năm 1998, ánh nắng mùa thu còn rực rỡ trên cao, cành hoa tím trong vườn nhà ai vươn lên, như một bàn tay vẫy gọi. Quận 15 của thành phố Paris trở nên yêu kiều, lộng lẫy, với nụ cười của người họa sĩ tuy lúc ấy đã 92 tuổi nhưng vẫn tráng kiện thanh xuân, chờ đón chúng tôi trước ngưỡng cửa.
Từ buổi gặp gỡ lần đầu tiên ấy dến nay đã hơn ba năm, chúng tôi còn hân hạnh được gặp Lê Phổ vài lần sau đó. Nụ cười gợi nắng ấm của người họa sĩ vẫn lưu luyến trong tâm hồn mỗi khi chúng tôi nghĩ về ông. Ấy là những sợi nắng của miền nhiệt đới, của nơi quê nhà. Chẳng bù với những tháng ngày mưa gió giá buốt cuối năm 2001 tại đây, có những buổi sương mù xuống thật thấp, rưng rưng, như ngày 12 tháng 12, là ngày họa sĩ Lê Phổ từ giã cõi đời ô trọc để bước chân vào chốn giai không…

Những người yêu thích nghệ thuật việt nam, tây cũng như ta, đều biết Lê Phổ, và ít nhất cũng đã một lần nhìn được đây đó, trên một tạp chí hoặc một tài liệu, vài bức tranh của ông. Lê Phổ là một trong những danh họa việt nam có tầm vóc quốc tế.
Sinh ngày 02/8/1907 tại Hà đông, là con thứ 10 trong 11 người con thuộc một gia đình quan lại quyền quý, Lê Phổ lớn lên theo phương pháp giáo dục cổ truyền Đông phương. Cha ông, Lê Hoan, được hàm phong “Khâm sai Đại thần” xứ Bắc kỳ (Tonkin). Mồ côi mẹ vào lúc 3 tuổi (1910), và ngay sau đó mồ côi cha (1915), ông được vợ chồng người anh cả nuôi nấng dạy dỗ.
Năm 16 tuổi, do yêu thích nghệ thuật và rất có khiếu, ông vào học trường Chuyên nghiệp (École Professionelle [2], còn được gọi dưới một cái tên thông dụng, quen thuộc với người sống vào thời ấy, là trường Bách công Bách nghệ, École d’Art et Métier), đã từng do họa sĩ Gustave Hieroltz (1877-?) giữ chức vụ Hiệu trưởng.
Vào năm 1925, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập bởi Victor Tardieu (1870-1937) và Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ (1899-1973) , mở cuộc tuyển sinh đầu tiên, tổ chức cùng một lúc tại Hà nội, Huế, Sài gòn, Phnom Pênh và Vientiane. Thông báo tuyển sinh đã được đáp ứng một cách nồng nhiệt, với sự tham dự của 270 thí sinh toàn Đông Dương, trong đó có chàng trai trẻ Lê Phổ, lúc ấy tròn 18 tuổi.
Cuộc tuyển sinh rất là gắt gao vì ban Giám khảo quyết định chỉ chấm đậu mười thí sinh. Trong số mười thí sinh trúng tuyển ấy, Lê Phổ đứng hàng thứ chín.
Dưới sự hướng dẫn tận tình của các giáo sư, đáng kể nhất là Victor Tardieu và Joseph Inguimberty (1896-1971), là những người thầy không muốn đánh mất bản sắc việt nam, đã hướng dẫn học sinh đi vào một phương pháp mới : dung hòa mỹ thuật hiện đại Tây phương với vốn liếng giàu có, muôn màu muôn sắc của mỹ thuật cổ truyền việt nam, Lê Phổ đã tỏ ra xuất sắc trong nhiều lĩnh vực, từ tranh lụa đến tranh sơn dầu.
Tài năng của ông đã sớm nở rộ và gây được nhiều tiếng vang trong nước, vì bắt đầu từ năm 1928, khi chưa ra trường, Lê Phổ đã từng triển lãm tại Hà nội với hai bạn cùng trường, đồng thời là bạn thời thơ ấu, là Mai Trung Thứ (1906-1980) và Vũ Cao Đàm (1908-2000).
Sau 5 năm chuyên cần học hỏi, năm 1930, Lê Phổ tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
Vào năm 1931, Triển lãm Đấu xảo Thuộc địa (Exposition Coloniale) được tổ chức một cách huy hoàng tại Bois de Vincennes, Paris, với quang cảnh Chùa Tháp Đế Thiên Đế Thích được mô phỏng với tầm vóc vĩ đại thực sự [10]. Được bổ nhiệm Giám đốc ban Mỹ thuật, Victor Tardieu đã đề cử “người học trò cưng” đầy tài năng của ông là Lê Phổ làm phụ tá, cùng ông sang Paris. Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã tham dự trong cuộc Triển lãm này với nhiều tác phẩm đặc sắc, gây được tiếng vang sâu lắng mà giới báo chí thời ấy đã viết nhiều bài báo ca tụng như một khám phá mới lạ. Các tác phẩm đó hiện nay vẫn còn được nhắc đến như một tiêu biểu cho nền mỹ thuật việt nam. Trong số ấy, hai tác phẩm sơn dầu đã đoạt Huy chương Bạc, đó là bức “Chân dung mẹ tôi” (Portrait de ma mère) của Nam Sơn và bức “Thời hạnh phúc” (L’âge heureux) của Lê Phổ.

Nhân dịp này, Lê Phổ đã xin được học bổng để vào học một năm tại trường Mỹ thuật Quốc gia Paris. Chính những phương pháp giảng dạy chính quy và gò bó trong nguyên tắc ở khoảng thời gian này đã làm Lê Phổ hoang mang trước những nhận định của chính mình về cái gọi là Nghệ thuật. Ông rời Paris, sang Ý và sống tại đây một thời gian dài. Thất vọng vì không tìm được cho mình một khuynh hướng để dung hòa những suy nghĩ nội tâm vào hội họa, ông du lịch đó đây tại châu Âu (Bỉ, Hòa lan…) và khám phá nền hội họa Cổ đại (Primitifs) tại các bảo tàng viện. Lê Phổ bàng hoàng nhận ra rằng có những điểm chung giữa nền hội họa Cổ đại châu Âu và hội họa Cổ đại Trung hoa mà từ lâu ông đã hằng tìm kiếm, điều khám phá ấy đã ăn sâu và ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời sáng tác của ông sau này.
Năm 1932, Lê Phổ trở về quê hương và nhận giảng dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
Năm 1934, ông tìm đến Bắc kinh và tiếp tục khám phá nền hội họa cổ điển Trung hoa, làm giầu mạnh hơn kiến thức của mình.
Năm 1937, Lê Phổ giữ chức vụ Giám đốc ban Mỹ thuật (nhà Đông Dương) trong Triển lãm Đấu xảo Quốc tế (Exposition Internationale) tại Paris, ông xuất dương cùng một lúc với hai người bạn là Mai Trung Thứ và Vũ Cao Đàm. Sau đó, cả ba người họa sĩ Việt nam đã quyết định chọn nước Pháp làm nơi định cư.
Bắt đầu từ thời gian ấy, tên tuổi của Lê Phổ sáng ngời trên đàn nghệ thuật. Năm 1938, lần đầu tiên ông triển lãm cá nhân tại Paris. Năm 1941, ông ký hợp đồng với nhà triển lãm Romanet, để sánh vai cùng các họa sĩ lẫy lừng như Albert Marquet (1875 1947), Foujita (1886 1968)…, trong cuộc triển lãm tại Algérie. Một trong những bức tranh trong triển lãm này là tấm tranh lụa “Những cô thợ nhuộm” (Les teinturières) [13], trình bày ba nhóm thiếu nữ, mỗi nhóm ba người, đang yểu điệu mượt mà làm việc. Bức tranh ở cái tĩnh thể hiện một chuyển động hài hòa trong nhịp điệu mà người họa sĩ tài hoa của chúng ta đã chợp bắt được. Đó là hình ảnh của những người thiếu nữ có thân hình vươn dài, rất dịu dàng và khép nép, với những đường nét và dáng điệu rất là Đông phương.
Sau đó là những triển lãm trên khắp thế giới, mà quan trọng nhất là những triển lãm tại Paris (1943, nhà triển lãm Roux Hentschel, cùng với Mai Trung Thứ và Vũ Cao Đàm), Bruxelles (1948, nhà triển lãm Van Loo), San Francisco (1962), New York (1963), Sài gòn (1963)…
Năm 1964, sau khi ký hợp đồng với nhà triển lãm Wailly Findlay (Palm Beach, Chicago, New York), ông đã trở thành họa sĩ việt nam nổi tiếng nhất trên thị trường tranh quốc tế. Xuất hiện qua nhiều cuộc đấu giá trên hoàn cầu, nhất là tại các nhà đấu giá hàng đầu như Christie’s và Sotheby’s, ngoài giá trị mỹ thuật, tranh của họa sĩ Lê Phổ có một giá thị thương mại rất cao, có bức từng bán được 37.000 USD.
Năm 1946, Lê Phổ muốn hồi hương, nhưng vì ông lập gia đình một nhà báo người Pháp, bà Paulette, nên cuối cùng ông vẫn sinh sống tại Paris.
Hai lần, vào năm 1988 và 1998, Lê Phổ ngỏ ý hiến tặng nhà Bảo tàng Mỹ thuật Việt nam hai mươi tác phẩm do chính tay ông tuyển chọn trong kho tàng đồ sộ của cả một cuộc đời sáng tác mỹ thuật. Cho đến nay, Chính phủ Việt nam vẫn chưa trả lời nhã ý của người họa sĩ sống xa quê.
Cuộc đời sáng tác của Lê Phổ có thể chia ra làm hai giai đoạn mà điểm mốc thời gian là năm 1937. Chúng ta có thể gọi một cách nôm na là thời gian Hà Nội và thời gian Paris. Gọi như thế, không phải để phân chia con người nghệ sĩ của chúng ta ra làm hai, cũng như phân chia thời gian Đông phương và thời gian Tây phương. Lê Phổ bao giờ cũng có một không gian chung cho cả hai thời kỳ, đó là không gian Việt nam, lúc nào cũng bàng bạc trong tất cả các tác phẩm của ông, dù được thể hiện dưới bất cứ đề tài hay hình thức nào.

Thời gian Hà Nội là những bức tranh truyền thống, mà theo chúng tôi, điểm cao nhất là bức “Thời hạnh phúc” (L’âge heureux) đã nói ở trên. Đó là một bức tranh sơn dầu với kích thước lớn, 1m27 x 1m78. Chúng tôi đã được Lê Phổ kể lại trong niềm xúc động mạnh mẽ rằng bức tranh ấy đã bán đi, đã vượt ra khỏi tầm tay của người họa sĩ hình thành ra nó từ ngay sau khi nó đoạt được Huy chương Bạc tại Triển lãm Đấu xảo Thuộc địa Bois de Vincennes 1931. Sau đó rất lâu, họa sĩ đã tìm mua lại bức tranh của chính mình, như người cha tìm lại đứa con đã từ lâu lưu lạc. Trong thời gian này, tranh Lê Phổ có bản màu đằm thắm, như một bài thơ tĩnh lặng, êm đềm, xoay chuyển giữa các màu mạnh mẽ và thánh thiện, đen nâu trắng…
Cùng trong bố cục và bản màu của “Thời hạnh phúc“, chúng ta có “Trong nhà” (La maison familiale au Tonkin, sơn dầu, 179x80cm, 1930), “Chân dung một mệnh phụ” (La femme du mandarin, sơn dầu, 113x80cm, 1931), “Hai đứa trẻ” (Les deux enfants, sơn dầu, 92x72cm, 1932)…
Từ năm 1937, Lê Phổ định cư tại Pháp. Cuộc đời sáng tác của ông cũng thay đổi theo môi trường chung quanh. Cái nhìn của ông trở nên thanh thản, nhẹ nhàng, nét cọ mang nhiều tinh xảo, uyển chuyển, đi sâu hơn vào chi tiết, như muốn trình bày trạng thái nội tâm. Nói theo nhà phê bình mỹ thuật Georges Waldermar “Lê Phổ ngắm nhìn thiên nhiên bằng những con mắt rạng rỡ… Đề tài của ông đôi khi là những cái bé nhỏ tầm thường của tạo hóa, nhưng người nghệ sĩ đã truyền qua chúng sự sống, đã biến chúng thành một phần linh hồn vũ trụ “…
Trong giai đoạn này, bản màu của Lê Phổ trở nên tưng bừng như có những âm điệu của một bài nhạc giao hưởng, qua đó, vượt qua giới hạn của một bức tranh, tác phẩm của Lê Phổ không dừng lại trong sự bất động của một hình ảnh mà thể hiện sự sống có thật. Chúng ta có thể không yêu thích những màu sắc ấy, có thể cho rằng nó quá chói lọi. Những màu xanh bích ngọc bên cạnh màu vàng hổ phách, màu xanh lam ngọc hòa lẫn trong hồng san hô, lóng lánh đó đây những màu son thắm, xanh dương…, quá rực rỡ đến nỗi phiền nhiễu cái nhìn tự nhiên của chúng ta qua nghệ thuật, nhưng chúng ta không thể chối từ sự sống thể hiện một cách tràn trề qua những bức tranh của ông.
Những cô thiếu nữ trong tranh Lê Phổ, khỏa thân hay không, hầu hết đều mang một dáng vóc tinh khiết, không hề có một dục tính. Đó là những dáng điệu tha thướt như làn gió, yếu đuối như ngọn lau…, dịu dàng uốn lượn, dường như muốn nghiêng lả xuống vòng tay người thưởng ngoạn để có một săn sóc chở che… Tiêu biểu là “Thiếu nữ và chim” (L’oiseleuse, lụa, 89x58cm, 1938), “Thiếu nữ mặt buồn” (Mélancolie, lụa, 34x27cm, 1938), “Thiếu nữ đang tắm” (La toilette, lụa, 31x23cm, 1942), …
Ngày nay, tranh Lê Phổ là những tĩnh vật tràn đầy hoa bướm với màu sắc lộng lẫy sáng ngời, có tiếng chim cười nắng gọi, gợi những giấc mơ đến từ cõi trời xa… Qua những bức tranh “Tĩnh vật hoa” (Fleurs, sơn dầu, 65x46cm),”Những đóa uất kim hương” (Les tulipes, sơn dầu, 92x65cm), “Thiếu nữ áo vàng” (Jeune fille en jaune, sơn dầu, 101x73cm)…, chúng ta nhận thấy bản màu của ông vẫn tỏa rạng miềm vui, nhưng nghiêng hẳn sang màu vàng với những sắc độ khác nhau, như bừng lên một vùng nắng ấm. Người ta gọi màu vàng ấy là phong cách Lê Phổ.

Trên đây là những điểm tiêu biểu trong cuộc đời của nhà danh họa Việt nam Lê Phổ. Tuy nhiên, có một điều vẫn làm chúng tôi thắc mắc mà không tìm được lời giải đáp.
Năm 1937, nhà văn Thanh Châu viết truyện ngắn “Hoa ti gôn“, đăng trên Tiểu thuyết Thứ Bảy, số tháng 7, kể lại một câu chuyện tình dở dang.
Ngay sau đó, để trả lời truyện ngắn ấy, tòa soạn đã nhận được bài thơ của một tác giả vô danh, T.T.KH, dưới tựa đề “Hai sắc hoa ti gôn“. Tiểu thuyết Thứ Bảy đã đăng bài thơ này trên số 23/9/1937, với những câu thơ tràn đầy trách móc, giận hờn, đau đớn…, cho đến nay vẫn là bất tử :
… Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi ! Người ấy có buồn không
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ?…
Từ buổi ấy, thi đàn bỗng dưng xôn xao chấn động, và còn rung động nhiều hơn nữa khi trên cùng tờ báo (số 20/11/1937), T.T.KH lại hé mở cõi lòng với “Bài thơ thứ nhất“, có những dòng run run tha thiết làm rướm máu trong lòng khách thơ :
… Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên…
Thế là một nghi án văn học cho đến nay vẫn còn chưa được sáng tỏ, người thiếu nữ đã nức nở tuôn ra những áng thơ đơn sơ nhưng tuyệt tác ấy là ai ? Nhiều thi nhân thuở ấy đã cảm xúc viết nhiều bài thơ gián tiếp nhận mình là người tình của T.T.KH, như Thâm Tâm với “Màu máu ti gôn“, Nguyễn Bính với “Cô gái Vườn Thanh“, …
Và một năm sau, lại một tuyệt phẩm “Bài thơ cuối cùng” được đăng trên Tiểu thuyết Thứ Bảy, số 30/10/1938, với những thổn thức, nghẹn ngào :
… Là giết đời nhau đấy biết không ?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh em viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng…
Rồi kể từ sau điệu cuối cùng ấy, T.T.KH đã mãi mãi câm lặng và mất hút trên thi đàn, để lại bao nhiêu nghi vấn trong lòng mặc khách tao nhân. Trong “Thi nhân Việt nam“, Hoài Thanh Hoài Chân đã viết “…liệu rồi đây người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối ?…”
Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1994, nhà văn Thế Nhật đã xuất bản quyển sách “T.T.KH, nàng là ai ?“. Quyển sách này gây một chấn động, vì nó đã đưa ra kết luận rằng T.T.KH chính là nữ sĩ Vân Nương [16]. Nữ sĩ không có lời phản đối, nhưng sau đó, trên báo Làng Văn (Canada), bà đã ngỏ ý muốn tự tử để giữ tròn danh tiết với chồng.
Tuy nhiên, dù đã có những kết luận gì đi nữa, chúng tôi không nghe thấy ai đưa ra một nhận xét nào về nhân vật nam trong tiểu thuyết của Thanh Châu. Chính nhân vật ấy, người tình ấy, đã làm T.T.KH bồi hồi thốt ra những lời thơ não nuột tuyệt vời kia. Theo câu chuyện, đó là một họa sĩ họ Lê (tên Chất), quê ở Hà đông, con trai của một Khâm sai Đại thần.
Chúng tôi nhận ra rằng họa sĩ họ Lê (dù mang một cái tên tưởng tượng trong tiểu thuyết), quê ở Hà đông, thì không có bao nhiêu người vào thời ấy. Nhưng là con trai của một Khâm sai Đại thần (vì không có nhiều Khâm sai Đại thần đến như thế), thì chỉ có một người, đó là họa sĩ họ Lê tên Phổ của chúng ta.
Nhiều lần gặp gỡ, nhưng chúng tôi không có dịp đặt câu hỏi với ông, vì cho rằng đó là điều quá đỗi đường đột, riêng tư. Nay có muốn hỏi thì người xưa không còn nữa. Nghi vấn vẫn còn đeo đuổi theo chúng tôi, nay lại quay cuồng trong đầu khi chúng tôi viết những dòng chữ tưởng niệm này, trong khi chính người họa sĩ ấy đã không còn bận bịu gì về những hệ lụy buộc ràng trên cõi đời này nữa…
Tuy nhiên, phải chăng Lê Phổ chính là người tình của T.T.KH ?
Les Lilas 15.12.2001 Hyères 20.3.2002
Ngô Kim Khôi
