Phong cảnh PHNÔM PÊNH – Hoạ sĩ Lê Quốc Lộc

Phong cảnh Phnôm-Pênh“, bình phong 8 bức bằng chất liệu sơn mài, là một sáng tác tràn đầy tính hài hòa của Lê Quốc Lộc, họa sĩ tốt nghiệp khóa 12 (1938-1943), trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.

Chất liệu sơn mài xuất hiện tại Việt Nam từ hơn 2500 trước, nhưng thị hiếu sơn mài tại Pháp vào những năm 1920, tiếp theo đó là xưởng sơn mài của Jean Dunand (1877 – 1942) tại Paris thành lập với những người thợ tuyển đến từ Đông Dương, đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành sơn mài tại Việt Nam. Khoa sơn mài được đưa vào giảng dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khoảng 1927, do Joseph Inguimberty phụ trách, Alix Aymé giúp đỡ về phương pháp tiến hành, nhưng sơn mài được chính thức chấp nhận một cách rõ ràng theo cải cách trường Mỹ thuật Đông Dương trong nghị định do Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký ngày 24/5/1938.

Chân dung hoạ sĩ Lê Quốc Lộc

Lê Quốc Lộc, sinh ngày 20/10/1918, mất 08/5/1987, quê Hưng Yên. Một số tài liệu ghi ông tốt nghiệp khóa 1937-1942, nhưng 1937 là năm qua đời của hiệu trưởng Victor Tardieu, trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương không tổ chức tuyển sinh. Liên lạc với gia đình họa sĩ, chúng tôi được kể vài chi tiết rất thú vị, chính là những dấu ấn thường được nhắc đến khi nói về tiểu sử tác giả : 1943 họa sĩ có con trai đầu lòng tên Lê Huy Văn, cũng là năm tốt nghiệp, và trùng vào thời gian họa sĩ mở xưởng tư nhân. Một điều thú vị, ông Lê Huy Văn kể rằng bức “Phong cảnh Phnôm-Pênh” được sáng tác vào năm ông ra đời .

Như vậy, Lê Quốc Lộc theo học khóa 12 tại trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (1938-1943), khoa sơn mài. Tốt nghiệp năm 1943, ông mở xưởng tại số 42, phố Lò Đúc (Hà Nội). Thời đó, tại Hà Nội rất ít xưởng sơn mài, đáng kể là xưởng Phạm Hậu, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Văn Tỵ, Hoàng Tích Chù… Thông thường, các xưởng làm sơn mài này sản xuất theo đơn đặt hàng của Hợp tác xã các nghệ sĩ Đông Dương (Cooperative des Artistes Indochinois), do Inguimberty lãnh đạo và Trần Văn Cẩn điều hành.

Thưởng thức tranh của Lê Quốc Lộc, ngay lập tức chúng ta nhận ra rằng ông là người kế thừa kỹ thuật sơn mài truyền thống, rất am hiểu nghệ thuật thủ công mỹ nghệ Việt Nam và đưa diện mạo sơn mài lên hàng mỹ thuật.

Thành công ở những tranh mang đậm tính quê hương, tâm tình của ông tràn đầy lên tranh với làng thôn và những cánh đồng vàng rực, mây núi ngút ngàn, thấp thoáng tàn phượng vỹ vút cao hay hàng hoa gạo rực đỏ, phong cảnh sông quê làng chày ẩn mình sau khóm trúc, những ngôi chùa lặng lẽ dường như có thể nghe tiếng chuông vọng lên muôn ngàn tàu lá chuối biếc xanh…

Với những tạo nét tạo hình có giá trị nghệ thuật vững vàng, hợp tác cùng kỹ thuật sơn mài xuất sắc, Lê Quốc Lộc đã cho ra đời những tác phẩm làm kinh ngạc giới thưởng ngoạn nghệ thuật. Sơn mài vốn vẫn được cho là có tính “mỹ nghệ”, nhưng dưới bàn tay khéo léo của họa sĩ, tác phẩm “Phong cảnh Phnôm-Pênh” đã thực sự bước chân vào hàng “nghệ thuật”.

Bình phong 8 tấm “Phong cảnh Phnôm-Pênh”

Gia đình họa sĩ Lê Quốc Lộc cho biết chủ đề “Phnôm-Pênh” ra đời năm 1943 theo yêu cầu đặt hàng của hoàng thân Norodom Sihanouk, diễn tả phong cảnh và con người của đất nước chùa Tháp… Theo lời kể của họa sĩ Lê Trí Dũng, con trai thứ họa sĩ Lê Quốc Lộc, năm 1979, có người bạn là phóng viên làm ở Thông tấn xã Việt Nam được nhiệm vụ sang Campuchia công tác, đã chụp lại bức ảnh tranh sơn mài có chủ đề “Phnôm-Pênh” nói trên, đang treo trên tường của hoàng cung. Con trai ông cũng kể lại rằng gia đình có nhận được thư cảm tạ của đại sứ Campuchia tại Hà Nội .

Cùng chủ đề và cùng năm sáng tác với bức tranh tại hoàng cung, bức bình phong 8 tấm “Phong cảnh Phnôm-Pênh” có tổng diện tích là đáng kể là 400 x 199cm (mỗi bức 50 x 199cm), diễn tả sự đa dạng quý phái của thiên nhiên và con người.

Thực hiện vào thời kỳ huy hoàng của sơn mài Việt Nam, “Phong cảnh Phnôm-Pênh” được sáng tác với những nguyên liệu thuần túy tự nhiên như gỗ, nhựa cây sơn, vàng lá và vỏ trứng. Đứng trước tác phẩm, người xem có một cảm giác yên bình ấm áp. Điều lôi cuốn mọi ánh nhìn là những rực rỡ của sắc màu vàng son lộng lẫy.

Cận cảnh một tấm trong bức bình phong

Màu vàng, biểu tượng của tâm linh và hạnh phúc, sắc đỏ tượng trưng của nồng ấm, của sức sống. Đây là những màu chủ đạo trong Phật giáo được minh họa bằng các yếu tố khác nhau : đất đỏ, trời vàng.

Ngoài ra, bố cục rất vững vàng, độ viễn cận được tôn trọng, bình phong được chia thành ba phối cảnh, thể hiện rõ ràng chiều sâu của tranh. Trước hết, gần nhất là sự hiện diện của những nhà sư : đang cầu nguyện, hoặc thảo luận, một số chúc phúc cho những phụ nữ, vài người đang bình an dạo bước…

Sâu hơn, cảnh quan mở ra nhiều loại thực vật đặc trưng miền chùa Tháp, cây thốt nốt, cọ, dừa, chuối và nhiều loại khác…,  lộng lẫy khoe mình trong sắc vàng son.

Giữa muôn hồng ngàn tía mở ra tầng lớp thứ ba bầu trời dát vàng rực rỡ, đây đó vài bảo tháp, một trong số đó thấp thoáng gương mặt Đức Phật.

Phải chăng đây là bình minh ? Những miếng vàng được dát lên nền trời tạo ra một thứ ánh sáng mang màu sắc huyền bí, dường như lấp lánh những tia nắng xa xăm, khi ẩn khi hiện của buổi hừng đông, hắt vào thân thốt nốt ngược sáng in đậm trên nền son đỏ và nâu sẫm. Vỏ trứng được khảm trên áo sơ mi và điểm xuyết vài bông hoa trên xà rông của hai người phụ nữ tạo ra một hiệu ứng sống động nhẹ nhàng… Và ngôi chùa với mái ngói rực vàng lôi cuốn mọi ánh mắt. Người xem tranh đặt câu hỏi có phải hay không đây là “chùa hoa sen”, Wat Botum  ở Phnom Penh ? Vị trí ngôi chùa dường như là một lời mời gọi con người hãy để lòng thanh thản bên ngoài, nhẹ nhàng rũ tất cả bụi trần để bước vào hòa mình giữa chốn tâm linh.

Phía dưới bên trái bức tranh là chữ ký của họa sĩ và năm sáng tác, được khắc chìm vào trong tranh.

Xuất xứ bức bình phong này thuộc bộ sưu tập gia đình KRAEMER. Đến Đông Dương và định cư ở Hà Nội vào cuối thế kỷ 20 (khoảng năm 1900), Charles Joseph KRAEMER kết hôn với Tô Thị Lợi và hạ sinh Henri vào năm 1908.

Lập nghiệp trong quân đội, giữ chức Lục sự tại Tòa án quân sự Hà Nội (tòa án cao nhất ở Đông Dương), Henri kết hôn với Nguyễn Thị Lai, thuộc thương gia kim hoàn và nha phiến (buôn bán hợp pháp vào thời điểm đó). Năm 1943, bà đề nghị ông mua bức bình phong 8 tấm của Lê Quốc Lộc, trực tiếp từ người nghệ sĩ mới ra trường, còn chưa thành danh và có phần thiếu thốn lúc bấy giờ.

Năm 1953, đối mặt với Việt-Minh, gia đình Henri KRAEMER rời Đông Dương chuyển đến Perpignan (miền Nam nước Pháp) rồi Bayonne và cư ngụ tại thành phố Biarritz cho đến ngày hôm nay.

Trong suốt cuộc hành trình ấy, bức bình phong sơn mài “Phong cảnh Phnôm-Pênh” luôn luôn đồng hành cùng gia đình, từ khi rời xưởng vẽ của nghệ sĩ ở Hà Nội cho đến lúc định cư tại xứ Basque.

Phong cảnh Phnôm-Pênh” tỏa ra những tiếng vọng ngọt ngào êm dịu, thổn thức điệu ru huyền hoặc của một bài thơ xa… Xử lý theo phong cách art-déco, tạo nên những đường nét mềm mại uyển chuyển, bức bình phong dường như được trải ra một cách uy nghi sang trọng. Phải chăng nơi ấy mọi tâm tình và hình ảnh đều kết hợp lại với nhau để tôn vinh thông điệp của Phật giáo: hòa bình, ấm áp và xum xuê màu sắc của con tim…

Ngô Kim Khôi

La peinture à la laque aujourd’hui présentée “Paysage de Phnom Penh” (Phong cảnh Phnôm-Pênh) est le fruit d’un harmonieux travail de l’artiste issu de la 12e promotion de l’École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine, Lê Quốc Lộc.

Si les vietnamiens ont depuis toujours utilisé la résine du laquier, mélangée à d’autres matières, pour la création d’œuvres artisanales très spécifiques, la mode portée à la laque en France dans les années 1920, suivie par la création de l’atelier de laque de Jean Dunand (1877 – 1942)  à Paris regroupant des travailleurs indochinois, a grandement influencé le développement des laques au Vietnam. Et si une section dédiée à la laque fut introduite à l’École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine vers 1927, sous la direction de Joseph Inguimberty, avec l’aide d’Alix Aymé et des artisans vietnamiens, elle ne fut officiellement reconnue que par le décret signé par le Gouverneur Général d’Indochine Jules Brévié le 24 mai 1938.

C’est ainsi que la laque traditionnellement considérée comme un “artisanat/décoratif” s’est sublimée en œuvre d’art d’une rare qualité sous les mains d’un talentueux artiste.

Lê Quốc Lộc, né le 20 octobre 1918, décédé le 8 mai 1987, d’origine à Hưng Yên. Certains documents disent qu’il est diplômé de la promotion 1937-1942, mais en 1937, l’année du décès du directeur Victor Tardieu, l’École Supérieure des Beaux-Arts d’Indochine n’organise pas de concours d’admission. Sa famille nous a affirmé des détails très intéressants concernant la biographie de l’auteur : l’artiste a eu son premier fils nommé Lê Huy Văn en 1943, c’est également l’année de diplôme, et coïncidé avec le moment où l’artiste a ouvert son atelier privé.

Chose intéressante, M. Lê Huy Văn a dit que le tableau “Paysage de Phnom Penh” a été composé l’année de sa naissance, c’est à dire 1943 .

Ainsi, diplômé la 12e promotion (1938-1943), section de laque, Lê Quốc Lộc a ouvert son atelier au 42, rue Lò Đúc (Hanoi). À cette époque, il y avait très peu d’ateliers de laque à Hanoi, notamment Phạm Hậu, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Văn Tỵ, Hoàng Tích Chù, etc. Habituellement, ces ateliers produisaient selon les commandes de la Coopérative des Artistes Indochinois, dirigée par Joseph Inguimberty et secondée par Trần Văn Cẩn.

Lê Quốc Lộc trouve son inspiration dans les sujets et paysages bucoliques, tels les villages avec des champs dorés cachés derrière des bosquets de bambous ou de branches de flamboyants éclatants rougeâtres. Les paysages de pagodes tranquilles où semble résonner encore l’écho de la cloche sur des feuilles vertes de bananier… Ses œuvres dont le style est simple, reflètent avec talent l’esprit oriental et illustrent la communion profonde entre l’homme et la nature.

La famille du peintre Lê Quốc Lộc affirmait que le thème “Phnom Penh” est né en 1943 à la commande du roi du Cambodge, Norodom Sihanouk, décrivant le paysage et les gens de sa ville. Selon ses dires, en 1979, un journaliste travaillant à l’Agence de Presse vietnamienne, un ami du fils du peintre Lê Quốc Lộc, qui était en mission au Cambodge, a profité de l’occasion pour prendre une photo où l’on voit une peinture à la laque de Lê Quốc Lộc accroché au mur du Palais Royal. Son fils Lê Trí Dũng a également raconté que la famille avait reçu une lettre de remerciement de l’ambassadeur du Cambodge à Hanoï pour cette commande .

Même thème et même année que la peinture sur le mur du Palais Royal de Phnom Penh, aux dimensions de 50 x 199cm chacun, le 8 panneaux “Paysage de Phnom Penh” d’une surface totale remarquable de 400 x 199cm, évoque l’aspect majesteux de la nature. Devant cette œuvre, le spectateur éprouve une sensation de douce quiétude.

Avec les caractéristiques de mise en forme d’une valeur artistique solide, et une excellente technique de laque, successeur de la technique traditionnelle (ancestrale) de la laque, Lê Quốc Lộc est unanimement reconnu pour la très grande qualité de ses compositions artistiques.

Réalisé à l’âge d’or de la laque vietnamienne, Paysage de Phnom Penhest exécuté avec des matières premières naturelles, hors produits chimiques : bois, résine de laquier, feuille d’or et coquille d’œuf. Ce qui attire avant tout le regard ce sont les couleurs rouge et or, qui nous introduisent dans un message de puissance et de richesse.

L’or, symbole de spiritualité et de bonheur, le rouge symbole de chaleur, de  vie ; ce sont les couleurs prédominantes dans le bouddhisme illustré ici par différents éléments. La terre au sol est rouge, le ciel est d’or.

Par une attention très attentive donnée à la perspective, les panneaux se découpent en trois plans donnant ainsi une grande profondeur à la composition.

Le premier au bas de ces panneaux est occupé par la présence de personnages : des bonzes en prière, d’autres en discussion, d’autres bénissant de jeunes femmes, d’autres encore se promenant paisiblement, certains munis de leur parapluie, symbole de protection contre la souffrance et les forces nocives.

Au second plan, entrant plus profondément dans le paysage, se dressent arbres, palmiers, cocotiers, bananiers et autres. C’est toute la magnificence du végétal jouant pour la plupart dans l’or et le rouge.

Emergeant de ces arbres, venant s’esquisser dans un troisième plan, celui du ciel enflammé d’or, apparaissent des stupas, dont un laisse deviner des visages de Bouddha.

Est-ce l’aurore ? Les feuilles d’or sont couchées pour créer une lumière offrant une couleur mystique, faisant scintiller les rayons du soleil lointain au lever du jour. Ces rayons se jettent aussi sur les troncs de palmier de Palmyre en contrejour sur le fond rouge translucide et brun foncé. La mosaïque des coquilles d’œufs incrustées sur la chemise et le sarong en fleurs des dames, provoque un vif effet de clarté…

Puis il y a cette pagode au toit de couleur or attirant toute l’attention. On pourrait imaginer la “pagode de la fleur de lotus”, le Wat Botum  à Phnom Penh. Sa disposition ici sur cette laque est comme une invitation à s’y rendre.

En bas à gauche du paravent figurent la signature de l’artiste et l’année de réalisation, gravées sur la surface.

De très grande qualité, ce paravent de laque a fait partie de la collection de la famille KRAEMER. Venus en Indochine et installés à Hanoi vers la fin du XXe siècle (vers 1900), le père et Tô Thị Lợi donneront naissance à Henri en 1908.

Faisant carrière dans la chancellerie militaire, notamment Greffier au Tribunal Militaire de Hanoï, la plus haute juridiction de l’Indochine, Henri épousera Nguyễn Thị Lai, commerçante en or et en opium (commerce au moins toléré si ce n’était légal à cette époque). En 1943, elle lui fera acquérir ce paravent en 8 panneaux de Lê Quốc Lộc directement auprès de l’artiste encore peu connu et quelque peu dans le besoin à cette époque-là.

En 1953, face aux troupes Viet-Minh, la famille d’Henri KRAEMER quitte l’Indochine pour Perpignan puis Bayonne et s’installera définitivement à Biarritz.

Tout au long de ce périple, le paravent accompagna la famille, et ne connut donc qu’un seul propriétaire, de sa sortie de l’atelier de l’artiste à Hanoï à son arrivée au Pays Basque.

Madame Nguyễn Thị Lai et ses enfants devant “Paysage de Phnom Penh” de Lê Quốc Lộc

Paysage de Phnom Penh” offre des compréhensions multiples : une douceur infinie, les souvenirs d’une atmosphère exhalant une poésie enchanteresse au rythme d’une respiration vivante ou à semi-ouverte se faisant l’écho de quelque poème.

Traités en style art-déco, toutes les lignes de cette œuvre sont rendues douces et souples. Ainsi le paravent semble se dérouler majestueusement où tout se rejoint pour magnifier le message du Bouddhisme : paix, chaleur et luxuriance des couleurs du cœur.

NGÔ Kim-Khôi

Chercheur indépendant en Art vietnamien