Nguyễn Văn Thọ vào học trường Thành Chung Bảo Hộ (Trường Bưởi) vào khoảng năm 1913 [1]

Trong môi trường giáo dục của chính phủ Pháp, vốn hướng người dân thuộc địa tiếp cận với nền văn hóa châu Âu, Nguyễn Văn Thọ đã tiếp cận những bài học cơ bản đầu tiên về nghệ thuật Tây phương với các giảng viên như nhà điêu khắc Emile Boudan và nữ hoạ sĩ Ridet, những người mà ông không bao giờ quên nhắc đến mỗi khi nói về sự nghiệp của mình.

Nếu hiện nay chúng ta có thể tìm thấy được một số tượng của Emile Boudan qua các nhà đấu giá, thông thường là những tác phẩm mang tính “hương xa” (éxotisme) diễn tả chân dung người bản xứ, thì đối với trường hợp nữ họa sĩ Ridet lại hoàn toàn khác.
Theo những dữ liệu tìm kiếm được trong sổ Niên giám [2] tại Hà Nội vào thời kỳ thập niên 1910, chúng tôi tìm được một cô giáo có họ là Ridet, tên Pauline, sinh ngày 1/6/1867, Huân chương giáo dục (hạng Officier), giáo viên cấp bậc 1, nhậm chức trong chính quyền Đông Dương ngày 1/5/1902. Điều đáng lưu ý ở đây, cô giáo Ridet là giáo viên biệt phái của trường Bách Nghệ Hà Nội, là một ngôi trường có liên quan đến nghệ thuật 25. Rất có thể đây là cô giáo dạy vẽ của Nguyễn Nam Sơn.

Điều đáng tiếc là chúng tôi không tìm ra được tác phẩm nào của Pauline Ridet, khi chúng ta biết rằng vẽ là điểm “mạnh” của Nam Sơn, và cho đến nay không ai biết Nam Sơn có làm điêu khắc hay không !
Tài liệu: Nam Sơn Di sản mỹ thuật Đông Dương qua tư liệu lưu trữ và báo chí, NXB Mỹ thuật, Ngô Kim Khôi.
[1] Đến năm 1931 trường mới nâng cấp thành Trường Trung học Bảo hộ (tương đương cấp trung học phổ thông hiện nay). Cùng lớp với ông là một người bạn thân và sau này còn là láng giềng tại khu Halais (hồ Thuyền Quang) : Đào Trọng Kim. Hai người đã cùng nhau đi Pháp năm 1925 (theo lời của họa sĩ Đào Trọng Lưu), Đào Trọng Kim vào học Trường Cao đẳng Công chính Pháp, Nguyễn Nam Sơn vào học Trường Mỹ thuật Paris.Đào Trọng Kim (1897-1984), nhân sỹ yêu nước, kỹ sư canh nông, còn là một chính trị gia người Việt Nam. Ông là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Giao thông Công chính (hiện nay là Bộ Giao thông Vận tải) của Việt Nam từ tháng 8/1945 đến tháng 3/1946, một trong 15 Bộ trưởng trong Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập sau Cách mạng tháng Tám 1945.
[2] “Annuaire Général de l’Indo-chine 1914” (Niên giám Đông Dương 1914), Gallica, BnF.