Mẹ tôi – Những lời tự sự của nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi

Mẹ tôi lớn lên trong một gia đình văn hóa với nếp sống ảnh hưởng những nét đẹp thanh lịch của hai nền văn minh Âu-Á.

Ông Ngoại tôi là một họa sĩ danh tiếng tại Hà-nội. Mồ côi cha từ nhỏ, ông được bà Cố một mình tảo tần vượt khó nuôi dạy nên thành người. Khi ông tôi thành danh, cụ Nguyễn Đỗ-Mục có tặng ông một câu đối :

Bức họa có thơ, Vương Ma-Cật đã nên tài lạ.

Cỏ lau làm bút, Âu Dương-Tu nhờ đức mẹ hiền.

Lúc tôi còn ở tiểu học, có được theo Mẹ đến dự một bữa cơm thân mật giữa các họa sĩ lão thành. Ông bà L.Y., người từng là Hiệu-trưởng trường Mỹ-thuật Gia-định, đã kể một câu chuyện về tên mẹ tôi như sau : “Ngày xưa, khi cụ Cố bán hàng tấm trên phố Hàng Đào, ông còn trẻ, đã được gia đình hứa hôn với cô Trâm (em bà L.Y.). Cô Trâm là người có vẻ gầy như mai, lại hay đau yếu, vì vậy cụ Cố đã để cho mối tình ấy dở dang. Sau này ông đặt tên cho con gái là Trâm để nhớ đến kỷ niệm xưa“… Mẹ tôi có cái tên đượm nét đài trang, Ngọc-Trâm.

Thời niên thiếu, ông tôi có tiếng là hiếu thảo và nghiêm trang. Có nhiều đám mối mai, nhưng trong lúc ấy ông chỉ có một niềm đam mê về hội họa, nên đám nào ông cũng chối từ. Phải chăng ông vẫn còn nhớ đến mối tình đầu dang dở ? Về câu thắc mắc này, Mẹ tôi cũng không thể trả lời cho tôi được. Nhà thơ Tú-Mỡ đã viết một bài thơ tặng ông, thơ rằng :

Đạo đức như anh ấy mới là…!

Tính tình, chí nguyện khác người ta.

Diễn bài mỹ thuật cưa không dứt,

Nghe chuyện ô dâm lỉnh thật xa.

Mê vẽ không nề thân yếu lướt,

Tìm thầy chẳng quản nỗi xông pha.

Mong anh chóng nổi thành danh họa

Hiển thánh mai sau có lẽ mà…

Đã nhiều lần ông được dịp sang Pháp du học, nhưng lần nào bà Cố tôi cũng không đồng ý, viện lẽ mẹ con đơn chiếc có nhau, con đi xa nhỡ có bề gì…, con phải ở nhà cưới vợ, sinh con đẻ cháu để nối dõi tông đường ! Thuở ấy, chuyện đi du học chỉ dành cho nhà giầu hoặc gia đình quyền thế con ông cháu cha, nhà ông tôi lại nghèo khó. Lần cuối cùng, khi có cơ hội sang Pháp, ông đã thuyết phục được mẹ. Đến khi người Pháp ấy đến nhà để xin phép thì bà Cố tôi lại oà ra khóc, không nở rời con. Ông tôi đành phải dọa là nếu không được đi thì ông sẽ không lập gia đình. Vì vậy, ông tôi thành gia thất sau khi du học về, lúc tuổi đã ngoài ba mươi. Đối với thời bấy giờ thì đã rất trễ.

Bà Ngoại tôi là người làng Lai-xá (Hà-tây), một làng nổi tiếng về nghề ảnh. Tất cả các hiệu ảnh có chữ Lai trong tên tiệm đều xuất thân từ Lai-xá. Dạo trước có hiệu chụp ảnh Phúc-Lai, là người có họ trong nhà. Ngày nay có thể nói rằng gia đình Phúc-Lai đã sinh ra ba người con danh tiếng là Giáo-sư Tiến-sĩ Vật-lý Thiên-văn Nguyễn Quang-Riệu, Trung-tâm Nghiên-cứu Khoa-học Quốc-gia Pháp (CNRS), cùng hai em là Giáo-sư Bác-sĩ Nguyễn Quang-Quyền, viện Đại-học Y-khoa Sài-gòn và Giáo-sư Tiến-sĩ Lý-hóa Nguyễn Quý-Đạo, (CNRS). Người ta sẽ cho rằng tôi thấy người sang bắt quàng làm họ, nhưng họ hàng trong làng Lai có nhiều danh nhân như bà Nguyễn thị Mão, một trong những cô giáo đầu tiên của thế kỷ 20, người đã có công chăm lo cho hai em là Nguyễn văn Huyên và Nguyễn văn Hưởng sang Pháp du học, đậu Tiến-sĩ Văn-khoa và Luật-khoa mà báo chí tại Pháp cũng như tại Việt-nam thời ấy đã ca ngợi.

Trong gia phả tại Lai-xá đã nói về bà Ngoại tôi “tên Lương Phương-Thảo, hồi nhỏ được đi học, thời trẻ có sắc đẹp, nói chuyện có duyên“. Bà tôi ưa thích văn thơ, đã viết bài trên báo Phụ-nữ Tân-văn với biệt hiệu Thanh-Hương. Dù Mẹ tôi không thể trả lời cho tôi câu hỏi rằng ông tôi đã từ chối nhiều mối mai có phải vì ông còn tưởng nhớ đến mối tình đầu, thì tự tôi cũng đã có câu trả lời : Ông tôi có tất cả mười người con.

Tuổi ấu thơ của Mẹ tôi trải qua trong nhung gấm, trướng phủ màn treo, lụa là đèn sách. Theo trí tưởng tượng của tôi thì Mẹ trong thời thơ ấu là một cô gái xông xáo và hiếu động, vì ngoài việc học, Mẹ hay thích giúp ông tôi trong những việc như đánh giấy nhám ô cửa hoen rỉ, lên đèn hương bàn thờ ngày hai lần, trồng cây, cắm hoa…, và không hề có “nét buồn như liễu vẻ gầy như mai” như cô Trâm của ông tôi. Từ thuở 6 tuổi khi bắt đầu biết đọc biết viết, mỗi tối đều có một chương trình đọc sách tại phòng bà Cố do Mẹ tôi đảm trách mà khán thính giả là mọi người trong nhà kể cả các vú em, đầu bếp, anh kéo xe, cùng mọi người giúp việc. Nào là các bài kinh Phật đến truyện Kiều, Cung Oán, Chinh phụ, Gia Huấn ca, Nhị Thập tứ hiếu, Hoàng Trừu… Thuở ấy Mẹ tôi chưa hiểu gì nhưng cứ đọc làu làu, có lẽ vì vậy mà những áng thơ tuyệt tác đó đã thấm nhuần vào cội rể tâm hồn, ăn sâu vào từng hơi thở. Mỗi tối thứ bảy và chủ nhật, cả nhà được dự một buổi nghe nhạc từ chiếc máy hát cổ xưa “La voix de son maître” với các loại đĩa hát nhựa chứ không phải đĩa laser như bây giờ. Chiếc máy hát ấy đã đưa Mẹ tôi viễn du đến những vùng trời huyền thoại với các symphonies, sonates của Beethoven, valses của Strauss, Sérénade của Schubert, Valse Favorite của Mozart, Rêverie của Schumann, Berceuse của Brahms, Le chant du départ (Mẹ tôi thường gọi là bài “Lên đường” của Pháp)… Ngoài ra còn các đĩa hát của Tino Rossi, Joséline Baker…, các bài dân ca Pháp, đến các đĩa Việt-nam như Tống Tửu Đơn Hùng Tín, Xử án Bàng Quí Phi, Lữ Bố hý Điêu Thuyền, Linh miêu hoán chúa, Tiễn chân anh Khóa…, và phải nghe thuộc lòng bộ Assimil l’Anglais. Ông tôi còn dạy riêng cho Mẹ tôi chữ nho qua quyển Hán văn tân giáo khoa thư của Lê Thước, Nguyễn Hiệt Chi. Tôi hình dung ra Mẹ tôi, một cô gái bé nhỏ ngồi trước tấm bảng carton Isorel, tay cầm cọ nhúng vào… bình nước lạnh rồi tập viết chữ nho lên bảng, chờ bảng khô lại viết tiếp. Ngoài những bổn phận đèn sách theo thời khóa biểu do ông tôi chỉ định, thỉnh thoảng ông bà cho cả nhà đi chơi vườn Bách Thảo, xem xiếc Tạ Duy-Hiển, coi ảo thuật hay chiếu bóng. Ngày hai buổi Mẹ tôi và các bác phải ngồi trên xe kéo đến trường. Vì ít được đi đây đó nên những buổi tan học, khi ngang vườn hoa Canh Nông hay đến nhà Đấu Xảo, Mẹ tôi lại năn nỉ anh kéo xe cho xuống cùng các anh chị chạy chơi một đoạn đường, nhặt búp đa hay lượm sỏi…

Mẹ tôi lớn lên trong một dinh thự mà mặt chính hướng về hồ Thiền-Quang (Halais), trên một con đường ngát thơm mùi hoa sữa của Hà-nội. Ngôi nhà được xây theo ý riêng của ông tôi, do kiến-trúc-sư Nguyễn Cao-Luyện và Hoàng Như-Tiếp vẽ, (Nguyễn Cao-Luyện sau này là Thứ-trưởng Bộ Kiến Thiết). Đó là một dinh thự hai tầng ba dãy hình chữ U, có mái ngói cong, với hành lang và lan can phía trước bằng gỗ chạm trổ tinh vi. Dãy bên phải là nhà ở. Dãy giữa là tòa nhà thờ Phật và tổ tiên ở tầng trên, dưới nhà là phòng học và viện sách. Dãy bên trái là họa thất. Ông tôi đã sưu tìm khắp mọi nơi để gom góp những cửa võng, bức bàn chạm trổ, cột son, hương án, tủ thờ, hoành phi, câu đối…, để trang hoàng một nơi thừa tự trang nghiêm, vàng son lộng lẫy. Kiến trúc sư Arnauld Le Brusq có xuất bản một quyển sách tại Paris dưới tựa đề “Vietnam, à travers l’architecture coloniale” (Việt-nam qua kiến trúc thời thuộc địa), có nhắc đến dinh thự này. Riêng về phòng vẽ, trên tường là những chạm trổ phù điêu và trầm điêu do sinh viên trường Cao đẳng Mỹ-thuật Đông-dương thực hiện. Đó là họa thất tư nhân đầu tiên ở Hà-nội, đã tiếp đón nhiều danh họa như Victor Tardieu, Inguimberty, các giáo sư trường Cao đẳng Mỹ-thuật hay họa sĩ Nhật-bản Foujita và Sékiguchi khi hai ông này đến Việt-nam. Foujita là bạn học của ông tôi tại Pháp.

Dinh thự nằm giữa một khu vườn rộng thênh thang trang trí bằng nhiều cây cảnh, có bể nước bác giác hai tầng với năm vòi nước phun, là một điều rất ngoạn mục vào thời ấy. Những buổi tối hè nóng nực, cả nhà lên ngủ trên sân thượng, bà Cố thường nói “mát hơn Đồ-sơn !

Vào những buổi chiều khi hoàng hôn bắt đầu bâng khuâng buông mình trong xa vắng, đứng dựa bên giàn hoa tím trên sân thượng, Mẹ tôi dõi mắt nhìn ra xa, để tâm hồn bay theo phong cảnh thơ mộng mênh mông của trời đất, giữa những mùi hoa cau, hoa sữa hay hoa hoàng lan ngây ngất. Kia là mặt hồ Thiền-Quang bát ngát với những đợt sóng lăng tăng như từ từ say ngủ dưới giọng hát ru vời vợi của tiếng chuông chùa Quang-Hoa, hòa theo giọng tiêu của ai văng vẳng từ ven hồ vọng lên tha thiết những bài Thiên thai, Đêm thu, Con thuyền không bến… Xa xa nhấp nháy những dãy đèn sân bay Cống-Vọng, Bạch-Mai, như những vì sao nhảy múa, làm tăng thên nét huyền ảo dưới gió mát trăng thanh. Trước thiên hương quốc sắc đến đau đớn cõi lòng của cảnh nước trời bao la, lòng Mẹ tôi đồng vọng bài thơ “L’Isolement” của Lamartine :

Ici gronde le fleuve aux vagues écumantes,

Il serpente, et s’enfonce en un lointain obscur.

Là le lac immobile étend ses eaux dormantes

Où l’étoile du Soir se lève dans l’azur.

Cependant, s’élançant de la flèche gothique,

Un son religieux se répand dans les airs :

Le voyageur s’arrête, et la cloche rustique

Aux derniers bruits du jour mêle de saints concerts.

Tôi xin được tạm dịch với tựa là “Hiu quạnh” :

Sóng tràn sông dữ dâng trào,

Lượn quanh rồi lại hút vào nẻo xa.

Mặt hồ yên ngủ an hòa.

Sao Hôm kìa đã hiện ra chân trời.

Vẳng từ cổ tháp chơi vơi,

Từng hồi chuông giữa nước trời bao la.

Khách du dừng bước, thiết tha

Chiều buông đồng vọng chung hòa nhạc êm…

Ngôi nhà trên 1000m2 xứng đáng là một di tích văn hóa ấy đã được ông Ngoại tôi xây dựng bằng cả một cuộc đời cần kiệm. Hàng xóm láng giềng gồm nhiều gia đình tên tuổi : Tổng Đốc Hồ Đắc-Điềm, có các anh em là Ưng, Khải, Di, Liên, An, đều là con của Thượng Thư Hồ Đắc-Trung. Cạnh đấy là nhà cụ Tuần Bùi Huy-Đức (cả hai cụ Điềm và Đức đều là con rể của Võ Hiển Hoàng Trọng-Phu). Bên cạnh đó là ngôi nhà xây dở dang của cụ Ngô Tử-Hạ, quân Nhật và quân Tàu Tưởng chiếm ở một thời gian và năm 1946 nhà ấy đã xảy ra vụ án Ôn-Như Hầu. Gần đấy là nhà Hiệp Tá Đại Học Sĩ Vi văn Định, con trai cụ Vi văn Lý. Cụ Vi văn Định có người con rể là ông Nguyễn văn Huyên (sau này là Bộ-trưởng bộ Văn-hoá, em bà giáo Mão làng Lai đã nói ở trên). Sau lưng nhà ông tôi là gia đình Đông Các Đại Học Sĩ Trần văn Thông, thân phụ Luật sư Trần văn Chương. Quý vị cao niên hẵn đã biết gia đình cụ Trần văn Chương, vậy đây nhắc với các bạn trẻ rằng cụ Trần văn Chương là thân sinh của “Người đàn bà nhũ danh Trần Lệ-Xuân“, tức là bà Ngô Đình-Nhu. Bên cạnh nhà cụ Thông là nhà bà đốc Hải, con dâu cụ Nguyễn văn Vĩnh và cũng là thân mẫu Bác sĩ Nguyễn Lân-Đính. Người hàng xóm bạn thân của ông tôi là cụ Đào Trọng-Kim, Bộ-trưởng bộ Công Chánh, vân vân và vân vân…

Chân dung mẹ tôi Ngô Kim-Khôi, sơn dầu trên lụa, 1982, 40x50cm
Chân dung mẹ tôi
Ngô Kim-Khôi, sơn dầu trên lụa, 1982, 40x50cm

Theo người xưa thường nói thì Mẹ tôi là một “hồng nhan đa truân“. Sang Pháp du học với chồng, tình duyên lận đận, sau đó Mẹ tôi trở về sống tại miền Nam trong đơn lẻ và nghèo khó, một mình cưu mang bốn đứa con.

Thuở ấy Mẹ tôi còn trẻ lắm. Cuộc đời trước mắt như một đại dương mênh mông đầy bất trắc mà Mẹ tôi là một con thuyền nhỏ bé lẻ loi dong buồm ra khơi, một mình chống chọi với muôn ngàn bão tố. Ôi “bể trần chìm nổi thuyền quyên“, không có ai để chia xẻ nỗi niềm “em ra đứng mũi cho anh chịu sào“. Hồi tưởng lại những gian nan vất vả đã trải qua trong cuộc đời vừa làm cha, vừa làm mẹ của Mẹ tôi, nhiều lúc tôi cảm thấy sợ hãi vô cùng, càng thấu đáo sự hy sinh, lòng thương con vô bờ bến và tinh thần trách nhiệm là động cơ khiến Mẹ tôi có nhiều nghị lực vượt qua những khó khăn để nuôi dạy chúng tôi nên người.

Mẹ tôi có nhiều người ngưỡng mộ vì cách cư xử và nếp sống Âu-Á đặc biệt, không giống như những phụ nữ bình thường, cho nên người đời thường thêu dệt nhiều huyền thoại chung quanh. Hồi nhỏ, chúng tôi vẫn ngây thơ hỏi nhau “Sao nhà mình không có má bới đầu, mặc áo bà ba và… ăn trầu như các nhà khác ?

Là con gái của một nghệ sĩ, Mẹ tôi rất yêu thích các bộ môn nghệ thuật, nhất là văn chương. Rất có khiếu nên Mẹ tôi đã viết văn, làm thơ. Tiếc thay con đường văn chương của Mẹ tôi không thênh thang trong gió, do phải dành nhiều thì giờ đấu tranh với cuộc sống, nuôi dạy đàn con. Thân gái dặm trường, con người kiều diễm chăn đơn gối chiếc là Mẹ tôi đó cũng có nhiều văn nghệ sĩ vãng lai. Đôi người là bạn học từ nhỏ, dăm kẻ đã có tiếng tăm, nhưng Mẹ tôi ít tiếp xúc, tự bảo đôi khi phải quên chất nghệ sĩ đi vì bổn phận quá nặng nề. Lấy làm lạ, tôi hỏi thì được trả lời rằng những người thuộc loại cùng một lứa bên trời lận đận gặp nhau thường dễ xảy ra tiếng sét, cần phải kính nhi viễn chi. Trước đây nhà văn H.A.T. đã viết một truyện về Mẹ tôi. Bẳng đi một thời gian không gặp lại, với bao nhiêu thăng trầm của một đời người, vào tháng 5/1975, lúc đang ăn sáng tại Brodard, Mẹ tôi ra dấu cho tôi nhìn một người đàn ông ngồi bàn gần đấy, tay cầm chìa khóa có bảng khách sạn, mắt dõi xa như chìm trong những suy tưởng mông lung, bảo rằng “Đó là H.A.T.” Gặp lại cố nhân, nếu đến hỏi chuyện chắc là vui vẻ lắm, nhưng Mẹ tôi đã lặng lẽ kéo tay tôi ra về. Nhà văn Th.N. cũng là người quen biết cũ, sau chỉ gặp lại một lần ở Sài-gòn rồi Mẹ tôi cũng tránh mặt. Mẹ thường kể “Th.N. là người mang bài thơ Đêm Liên-hoan của Hoàng Cầm từ chiến khu vào Hà-nội và đã đăng lần đầu tiên trên báo của Ba con“. Rồi có một ông ở Việt-Tấn-Xã đã làm một bài thơ tặng Mẹ tôi, thơ rằng :

Huyền ảo quá muôn ngàn năm lịch sử

Linh thiêng về trong đêm lắm xôn xao

Ngọc ngà xưa còn in nét thanh cao

Trâm anh cũng lẫy lừng trang sử Việt !

Bài thơ còn dài, tôi không nhớ hết, chỉ nhớ còn có một câu “Anh run sợ cho yêu là mệnh số“, đã bị Mẹ tôi phán cho là bắt chước thơ Đinh-Hùng ! Bạn đọc nào biết trọn bài thơ, xin cho biết để tôi tạ tình tri kỷ.

Rồi nhà thơ Tạ-Ký, trong thi tập “Sầu ở lại“, đã dành tặng riêng cho Mẹ tôi và L.T.L. một bài thơ nhan đề “Xin” :

Chỉ xin một nửa miệng cười

Chỉ xin một phút bên người yêu thương.

Chỉ xin một chút dư hương

Gọi làm duyên suốt nẻo đường viễn du.

Cố nhân thôi đã tạ từ

Dăm năm đấy nhỉ thực hư thế nào.

Má còn làm thẹn hoa đào

Mắt còn làm nhạt ngàn sao trên trời

Tóc còn xanh tuổi đôi mươi

Lòng còn vui thuở hoa cười ước mơ.

Riêng ta từ lạc thế cờ

Đắng cay cười cợt ngẩn ngơ khóc thầm

Trang tình sử, chuyện tri âm

Khổ đau ai thấu được tâm sự này.

Phong Yên từ độ những ngày…

Hậu Đình Hoa chẳng chau mày thế nhân.

Đỉnh đồng chưa vững ba chân

Hai bờ cùng nổi, phong trần cả hai.

Đắng cay thức suốt đêm dài

Chỉ xin chút mộng để cài lên mi

Ngày mai thôi tính làm chi !!!

 

Về sau có người đọc bài thơ này, đã thảng thốt gieo bốn câu :

Ngày mai ai biết ra sao nhỉ !?

Chỉ biết nay về trong nhớ thương.

Mộng đời dù biết không thành được

Vẫn gọi thầm nhau suốt dọc đường…

Nhà văn cũng là thi sĩ K.T., vừa rồi xuất bản một tuyển tập truyện ngắn, trong đó có một truyện tựa là “Thư cho Lộc“, đã nhắc đến Mẹ tôi. Hồi ấy, K.T. tặng Mẹ tôi quyển thơ “Tình yêu và trái phá” mới xuất bản, bên trong có một chân dung do họa sĩ Ngọc-Dũng vẽ, tôi còn nhớ như in trong đầu là K.T. đã viết tên Mẹ tôi chung quanh, ôm tròn chân dung ấy, điều đó làm tôi, đứa bé ngày xưa, tức tối vô cùng. Thuở nhỏ, trong các bữa tiệc, tôi được theo Mẹ làm bổn phận “hộ vệ”, thường bị mấy người ấy mắng là có mặc cảm Œdipe ! Khi sang Paris, tôi có đến phố St Pères và đường Gambetta tìm chú K.T. và vợ là cô Ánh, nhưng gia đình chú đã dọn đi xa mất rồi.

Tên của Mẹ tôi còn là tên của một loài hoa, cùng họ với hoa thủy tiên, cánh trắng nõn nà và tỏa ra một mùi hương rất dịu dàng. Nhà thơ Xuân Diệu có một bài thơ về tên của Mẹ tôi, tựa là “Hoa ngọc trâm” :

Anh tặng cho em hoa ngọc trâm

Hoa như áng sáng, ngọc như mầm

Như cài trên tóc hoa trâm ngọc;

Anh tặng cho em hoa ngọc trâm.

Lá biếc đơn sơ, cánh nuột nà,

Rung rinh trên nước một cành hoa,

Một cành chụm nở hoa hai đóa,

Ôi, cái đêm đầu hợp giữa ta.

Hoa giúp cho anh tỏ mối tình.

Vì ta, hoa đã nở năm canh…

Dịu dàng canh một trăng soi bóng,

Tha thiết canh năm nguyệt trở mình.

Từ ấy anh yêu hoa ngọc trâm.

Những khi hoa vắng vẫn mong thầm.

Mỗi mùa hoa nở trong như tuyết,

Anh lại tìm thăm hoa ngọc trâm.

 

Có một dạo Mẹ tôi đi dạy trường Bùi thị Xuân trên Đà-lạt. Nhà văn Nguyễn thị Hoàng, thuở ấy chưa nổi tiếng, ra quyển “Vòng tay học trò” làm chấn động văn đàn, vì chuyện tình ghê gớm ấy vượt ra khỏi vòng lễ giáo. Chỉ vì cái tên mà nhiều người đã quyết đoán rằng Mẹ tôi là Nguyễn thị Hoàng, bởi cô giáo Trâm trong truyện cũng dạy tại trường Bùi thị Xuân. Sau này gia đình tôi có ở trọ cùng với Nguyễn thị Hoàng tại nhà ca sĩ Trang-Thanh, trong một cư xá gần trường đua Phú Thọ ở Sài-gòn, Mẹ tôi và Nguyễn thị Hoàng vẫn cười vui khi nhắc đến chuyện ấy.

Sau khi từ Pháp về, Mẹ tôi cùng vài người bạn mở 6 trường Trung-học. Vì lòng không vui, vả lại “cao xanh liều một cánh tay níu trời“, Mẹ tôi điếc không sợ súng đã chấp nhận làm Hiệu-trưởng trường Trung-học tại Bến-Cát, một vùng xôi đậu hẻo lánh, bỏ lại sau lưng những phồn hoa đô hội, ánh sáng kinh thành. Do lòng nhân ái, một truyền thống trong gia đình, Mẹ tôi đã giúp đỡ bao học sinh nghèo khó. Thấy Mẹ tôi đơn chiếc, một phụ huynh đã nói “Cô tốt quá, chắc Thầy cũng ở trong kia nên Cô mới về đây một mình, không có Cô thì con em chúng tôi đành thất học“. Vì nhiều lời thêu dệt, đồn đãi, nên Mẹ tôi bị chính quyền Cộng-hòa nghi là cộng sản, cho rằng ba tôi ở trong “R” nên chúng tôi mới về nơi đèo heo hút gió ấy. Sau biến cố lịch sử năm 1975, cái mai mỉa trớ trêu của cuộc đời đã đưa đẩy Mẹ tôi đi học tập cải tạo bốn năm, vì bị chính quyền Dân-chủ Cộng-hòa nghi là hoạt động gián điệp CIA. Trong mọi thứ tình, món “tình nghi” thường mang lại cho ta nhiều oan khuất khó giải thích. Mẹ tôi bị giam chung với nhiều chính trị gia tăm tiếng. Ba tôi tên là Ngô Bá-T., họ cho rằng Mẹ tôi có họ hàng với bà Ngô Bá-Thành !

Từ thuở rời Hà-nội, sang Pháp rồi trở về miền Nam đến nay, Mẹ tôi chưa có dịp trở lại nơi cất dấu bao kỷ niệm ấu thơ. Mỗi khi hoa ngọc trâm trong vườn nhà dịu dàng đưa hương, Mẹ tôi lại thấy hiện về một trời vàng son thơ ấu, con bé nhỏ ngây thơ hồn nhiên là Mẹ tôi ngày xưa đó hay chơi giải gianh đánh chuyền, chơi ô ăn quan hay chơi nhảy vô trồng nụ trồng hoa trong vườn nhà ông Ngoại tôi, trên cái lối đi vào nhà vẫn viền những hàng hoa ngọc trâm thơm ngát ấy… Đã hơn nửa thế kỷ qua rồi. Mẹ tôi chưa kịp “Huyên già dưới gối gieo mình” thì bà Cố và ông bà Ngoại tôi đã ra người thiên cổ, có muốn níu kéo thì chỉ còn lại chút kỷ niệm mà thôi…

Là một người làm việc suốt cuộc đời, nay đã đến tuổi “cổ lai hy”, nhưng ngoài những giờ phút thanh thản bên sách vở, nghe nhạc và chăm sóc cây kiểng, Mẹ tôi vẫn dành thì giờ cho các hoạt động xã hội, giúp đỡ các gia đình nghèo khó… Người bị tình nghi CIA ngày trước bây giờ lại được báo chí “thành phố Hồ Chí-Minh” viết bài khen ngợi, gọi Mẹ tôi là “Bà Tiên của những trẻ em nghèo“.

Nay nhân dịp Ngày Mẹ, mọi người chắc viết về công lao của Cha Mẹ, riêng tôi, rời quê hương đã 25 năm, tôi không quên câu đã viết cho Mẹ trong lá thư đầu tiên khi mới đặt chân đến kinh đô ánh sáng : “Mẹ ơi, mọi người tiếp đón và đối xử với chúng con rất tốt, chúng con có đầy đủ mọi thứ, nhưng điều mong ước thiết tha nhất của con vẫn làm sao có Mẹ bên cạnh“. Và đối với tôi, dù có là Bà Tiên hay không, tên Ngọc-Trâm vẫn là cái tên đẹp nhất.

Tôi xin mượn lời ca của nhạc sĩ Phạm Thế-Mỹ, trong nhạc phẩm “Bông hồng cài áo“, để nói với Mẹ tôi đôi lời :

… Rồi một ngày nào đó anh về nhìn mẹ yêu, nhìn thật lâu, rồi nói với mẹ rằng :

-” Mẹ ơi ! Mẹ ơi, mẹ có biết hay không ? ”

-” Biết gì ? ”

-” Biết là…, biết là… con thương mẹ không “.

 

Thành phố hoa Xoan, ngày Mẹ, 2009

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim-Khôi