Ký ức của Mỹ thuật Hà Nội – Ngô Kim Khôi

Ngô Kim Khôi – nhà nghiên cứu độc lập, chuyên gia về Trường Mỹ thuật Đông Dương, ông còn là cháu ngoại của hoạ sĩ Nguyễn Nam Sơn, người cùng họa sĩ Victor Tardieu sáng lập trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1924. Trong gần hai mươi năm, trường đã đào tạo nhiều thế hệ hoạ sĩ tên tuổi, những tác phẩm của họ hiện nay rất được săn đón trên thị trường.

PV (Phóng viên): Chào anh Ngô Kim-Khôi, cảm ơn anh đã dành thời gian chia sẻ. Trường Mỹ thuật Đông Dương sắp kỷ niệm 100 năm thành lập. Anh có thể kể về lịch sử hình thành của trường không?

Ngô Kim-Khôi: Chào bạn! Trước khi Trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời tại Việt Nam, nghệ thuật hội họa thực thụ gần như chưa tồn tại, khác với phương Tây, nơi có các họa sĩ tên tuổi. Chỉ có những nghệ nhân vô danh, không để lại tác phẩm mang dấu ấn cá nhân. Họ sáng tạo cho cộng đồng: tranh dân gian, đồ vật sơn màu, gốm sứ bình dị, hoặc cùng nhau kiến tạo công trình kiến trúc phục vụ tín ngưỡng, như nghệ thuật thời Lý-Trần. Một phần lớn nghệ thuật này chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, với những hình ảnh quen thuộc như rồng, sen, nai, thông, tre, được các nho sĩ lặp lại qua nhiều thế kỷ.

Trước đó, các trường nghề như Trường Nghệ thuật Bản xứ Thủ Dầu Một (1901), Trường Nghề Biên Hòa (1903), và Trường Nghệ thuật Ứng dụng Gia Định (1913) đã xuất hiện, nhưng chưa có trường Mỹ thuật chính thức. Đến năm 1921, họa sĩ Victor Tardieu, người đoạt Giải thưởng Đông Dương và mang học bổng, đặt chân đến Hà Nội. Sinh năm 1870 tại Lyon, ông học tại Trường Mỹ thuật Lyon và Paris dưới sự dìu dắt của Gustave Moreau, Léon Bonnat, cùng các danh thủ như Henri Matisse. Ông nhận nhiều huy chương danh giá và nổi tiếng với các tác phẩm như “Lao động” hay bích họa tại Tòa thị chính Les Lilas. Năm 1920, ông nhận Giải thưởng Đông Dương, xem chuyến đi này như một sự giải thoát, giống Gauguin đến Đại dương. Tại Hà Nội, ông gặp Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ, một họa sĩ tự học xuất thân từ gia đình nho học. Cuộc gặp định mệnh này dẫn đến ý tưởng thành lập trường. Tháng 8 năm 1923, Tardieu soạn báo cáo “Nghệ thuật Annam trong quá khứ, hiện tại và tương lai”, được Thống đốc Merlin chấp thuận. Sắc lệnh ngày 27 tháng 10 năm 1924 chính thức thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương, với Tardieu làm hiệu trưởng.

PV: Trường để lại dấu ấn gì tại Hà Nội và nghệ thuật Việt Nam sau thời kỳ giải phóng?

Ngô Kim-Khôi: Sau khi Tardieu qua đời năm 1937, Évariste Jonchère tiếp quản đến 1945. Trong cuộc xâm lược Nhật, tháng 12 năm 1943, một phần trường bị bom Mỹ phá hủy, buộc phải chia thành ba địa điểm: Phủ Lý (nghệ thuật ứng dụng), Đà Lạt (kiến trúc, điêu khắc), và Sơn Tây (hội họa, điêu khắc còn lại) do các nghệ sĩ như Nam Sơn, Tô Ngọc Vân dẫn dắt. Sau đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, trường đóng cửa. Trong chiến tranh với Pháp, trường trở thành Trường Trung học Mỹ thuật Việt Bắc, đào tạo khóa kháng chiến dưới sự chỉ đạo của Tô Ngọc Vân. Từ 1955, tại vị trí cũ nay là Trường Mỹ thuật Việt Nam. Sự ra đời của trường đã thay đổi chất lượng nghệ thuật tạo hình Việt Nam, tôn vinh truyền thống, làm rực rỡ nghệ thuật cổ, hình thành phong cách độc đáo. Nhiều học viên như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí trở thành những nghệ sĩ cách mạng hàng đầu.

PV: Anh có thể giới thiệu thêm về Victor Tardieu, người sáng lập trường?

Ngô Kim-Khôi: Victor Tardieu, sinh năm 1870 tại Lyon, là một họa sĩ tài hoa, học trò của Gustave Moreau và Léon Bonnat. Ông nhận nhiều giải thưởng quốc tế, từ Huân chương Đồng tại Triển lãm Thế giới 1900 đến Vàng tại Salon des Artistes français. Ông nổi tiếng với các tác phẩm như “Travail” và bích họa tại Les Lilas. Năm 1920, ông nhận Giải thưởng Đông Dương, đến Hà Nội 1921, gặp Nam Sơn, cùng nhau khai sinh trường. Con trai ông, thi sĩ Jean Tardieu, từng viết ông xem chuyến đi này như một sự tái sinh.

PV: Đặc điểm và các nghệ sĩ tiêu biểu của phong trào này là gì?

Ngô Kim-Khôi: Tardieu nhấn mạnh giáo dục thẩm mỹ, giữ gìn nghệ thuật truyền thống nhưng định hướng sáng tạo mới, lấy cảm hứng từ thiên nhiên. Trong 20 năm, trường đào tạo 18 khóa, khoảng 170 học viên, theo mô hình phương Tây nhưng kết hợp lịch sử nghệ thuật Đông-Tây. Kỹ thuật nổi bật là sơn mài và lụa. Các nghệ sĩ tiêu biểu gồm: bộ tứ “Phổ – Thứ – Lựu – Đàm” (Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Vũ Cao Đàm), “Trí – Vân – Lân – Cẩn” (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn), và “Nghiêm Liên Sáng Phái” (Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái).

PV: Làm thế nào để nói về sự tổng hợp giữa truyền thống Á châu và hiện đại phương Tây?

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi đứng cạnh tác phẩm "Chân dung mẹ tôi" của danh hoạ Nam Sơn
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi đứng cạnh tác phẩm “Chân dung mẹ tôi” của danh hoạ Nam Sơn

Ngô Kim-Khôi: Trường là luồng gió mới trong văn hóa Việt Nam, giao thoa Đông-Tây do Tardieu và Nam Sơn sáng lập, không sao chép Trường Paris mà hướng đến đào tạo nghệ sĩ, không phải nghệ nhân. Mục tiêu là hòa quyện thiên nhiên với truyền thống, phát triển tinh thần nghệ thuật Việt, trân trọng vẻ đẹp cổ xưa. Trường nâng cao kỹ thuật truyền thống, giới thiệu thẩm mỹ phương Tây, thúc đẩy sáng tạo bản địa.

PV: Phong trào có ảnh hưởng đến nghệ sĩ hoặc quốc gia Á châu khác không?

Ngô Kim-Khôi: Tôi không nghĩ vậy.

PV: Trường có ảnh hưởng đến nghệ sĩ Pháp không?

Ngô Kim-Khôi: Có, như Joseph Inguimberty, “họa sĩ đồng bằng”, với tác phẩm như Ao dưới tre, và Alix Aymé, sống tại Đông Dương 1920-1945, học sơn mài tại Nhật, dạy tại trường. Tác phẩm họ thấm đẫm nét Á châu, dù trong bối cảnh thực dân, tên tuổi họ sánh ngang Tardieu tại Việt Nam.

PV: Hiện nay, các tác phẩm chính được lưu giữ ở đâu?

Ngô Kim-Khôi: Tác phẩm rải rác khắp thế giới, chủ yếu tại Pháp qua các triển lãm như Paris 1931, 1937, hoặc tại Cơ quan Kinh tế Đông Dương. Tại Việt Nam, chúng ta có Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và các bộ sưu tập tư nhân như Đức Minh, Quang San ở TP.HCM.

PV: Làm thế nào giải thích thành công của trường trên thị trường gần đây?

Tác phẩm ‘Chân dung cô Phương‘ của họa sĩ Mai Trung Thứ được gõ búa với mức giá 3,1 triệu USD, phá kỷ lục cách đây hai năm của danh họa Lê Phổ
Tác phẩm ‘Chân dung cô Phương‘ của họa sĩ Mai Trung Thứ được gõ búa với mức giá 3,1 triệu USD, phá kỷ lục cách đây hai năm của danh họa Lê Phổ

Ngô Kim-Khôi: Thành công nhờ sơn mài và lụa, mang vẻ kỳ lạ Á châu. Nam Sơn muốn kết hợp nghệ thuật phương Tây với thủ công Đông phương, tạo phong cách độc đáo. Sơn mài, dùng từ 2500 năm, được nâng tầm nhờ ảnh hưởng từ Jean Dunand và trường, chính thức công nhận 1938. Nguyễn Gia Trí tạo kỳ tích với sơn mài. Tranh lụa, từ Trung Quốc, phát triển tại Việt Nam với Trở về chợ của Nam Sơn 1927, và Nguyễn Phan Chánh nâng tầm phong cách Việt. Thị trường sôi động, với kỷ lục 3,11 triệu USD cho Chân dung Mademoiselle Phượng của Mai Trung Thứ, chủ yếu do nhà sưu tập Việt.

PV: Đây có phải bong bóng, nơi thế hệ trẻ Việt sẽ nâng đỡ thị trường?

Ngô Kim-Khôi: Sáu năm qua, giá tác phẩm tăng gấp đôi, gấp ba, với kỷ lục từ Lê Phổ, Mai Trung Thứ. Nhà sưu tập chủ yếu là người Việt, tập trung vào tranh Đông Dương. Thị trường tạm chững, nhưng nghệ thuật Việt khẳng định bản sắc, sẵn sàng cho giai đoạn phát triển mới.

PV: Cảm ơn anh Ngô Kim-Khôi vì những chia sẻ sâu sắc!

Ngô Kim-Khôi: Cảm ơn bạn! Nghệ thuật Việt Nam bước vào thiên niên kỷ mới với niềm tin vững chắc vào tương lai huy hoàng.

Phỏng vấn được thực hiện bởi Olivier Tosseri

Elio NGÔ chuyển ngữ