Bối cảnh lịch sử
Từ thế kỷ thứ XV, với nền văn minh phát triển hùng mạnh, các nước châu Âu quyết định chiếm đoạt những vùng đất chưa được khai thác và bành trướng chế độ thuộc địa.
Theo trào lưu, nước Pháp lấn chiếm Canada dưới triều đại François 1er (1494-1547). Năm 1682, Pháp đặt quyền cai trị tả hữu ngạn sông Mississippi và gọi tên vùng đất mới là Louisiane. Dần dần, thực dân Pháp lan rộng, dành làm chủ quần đảo Antilles (Martinique, Guadeloupe et Saint Dominique), đảo Maurice, đảo Réunion…
Bắt đầu từ năm 1830, các nước Algérie, Maroc, Tunisie, Afrique-Équatoriale, Afrique-Occidentale, Madagascar, các vùng thương-mại Ấn Độ (comptoir en Inde)… rơi vào tay Pháp.
Từ 1847, nước Pháp bắt đầu dòm ngó vào châu Á. Năm 1881, Jules Ferry đặt quyền sở hữu Lào, Annam và Tonkin.
Văn nghệ sĩ Pháp vốn có giòng máu phiêu lưu lãng tử, đã theo trào lưu thuộc địa tìm đến các miền đất mới để khám phá những cảm giác lạ. Các hoạt động của họ dính liền với lịch sử, thí dụ cuộc viễn chinh Ai-Cập (1798-1799), cuộc chiến dành độc lập tại Hy-Lạp (1821-1829), sự thất thủ thành Alger tại Algérie (1830), chiến tranh Crimée (1854-1855), công trình xây dựng kênh đào Suez (1859-1869)… Trong số văn nghệ sĩ đó có rất nhiều họa sĩ, lập ra xu hướng Đông Phương (orientalisme).
Chế độ thực dân càng bành trướng, họa sĩ càng có cơ hội viễn du khám phá thế giới mới đầy bí hiểm và quyến rủ, diễn tả những suy nghĩ và cảm hứng của họ qua các tác phẩm với nhiều đề tài khác lạ và màu sắc tân kỳ rực rỡ.
Từ 1880, cuộc cách mạng kỹ nghệ tại châu Âu dẫn đưa cuộc sống vào cảnh xô bồ hỗn loạn, nhiều nghệ sĩ với tâm hồn mơ mộng cất bước ra đi khao khát tìm thiên đường đã mất, Emile Bernard ẩn thân 10 năm trên đất Ai-Cập, Paul Gauguin tha hương cho đến cuối cuộc đời ở Tahiti (thuộc địa Pháp từ năm 1880)…
Dần dần, bước chân phiêu lãng của họ đặt lên miền đất Phi châu, và xa hơn nữa, Đông-dương…
Hàn lâm viện và các tổ chức hội họa tại Pháp
1. Viện Hàn-lâm
a. Hàn-lâm Học-viện Pháp (Institut de France) : thành lập ngày 25/10/1795, là tối cao pháp viện của giới bác học thông thái, tập hợp nhiều thành viên từ những Viện khác nhau, quyết định các giải thưởng cho mọi môn ngành trên đất Pháp .
b. Viện Mỹ-thuật (Académie des Beaux-Arts) : Trong Hàn-lâm Học-viện Pháp có “Viện Mỹ-thuật”, thành lập năm 1816. Các thành viên là họa sĩ, điêu khắc gia, nhạc sĩ, kiến trúc sư…
2. Tổ chức hội họa
a. Triển lãm Nghệ sĩ Pháp (Salon des Artistes Français) : Năm 1663, Thái-dương Hoàng-đế Pháp Louis XIV (Louis-Dieudonné, 1638-1715) ra quyết định, hàng năm, vào tháng 4, các họa sĩ và điêu khắc gia thuộc Hàn-lâm-viện Hoàng-Gia (L’Académie Royale) phải công khai tổ chức một cuộc triển lãm nghệ thuật, tên gọi là “Triển lãm Nghệ sĩ Pháp”. Ngày 23/04/1667, cuộc triển lãm đầu tiên được mở ra cho công chúng tại Hàn-lâm-viện Paris. Năm 1668, Thừa-tướng Colbert (1619-1683) thay đổi quyết định, tổ chức triển lãm ấy hai năm một lần. Dưới triều Louis XV (1710-1774), “Triển lãm Nghệ sĩ Pháp” được tổ chức tại phòng Vuông (grand salon carré) ở điện Louvre vào năm 1725, từ đó mới có chữ “Salon” để gọi chung cho tất cả triển lãm sau đấy.
Đầu tiên, Salon chỉ dành riêng các thành viên thuộc Hàn-lâm-viện Hoàng-Gia. Sau Cách-mạng 14/7/1789, Salon mở cửa cho tất cả các nghệ sĩ Pháp.

Từ năm 1798, vì có quá nhiều nghệ sĩ muốn triển lãm nên Salon quyết định lập ra một ban giám khảo để chọn lọc tác phẩm. Ban đầu, giám khảo chỉ chuyên là các thành viên của viện Hàn-lâm, sau đó Bộ Nội-vụ chỉ định các nghệ sĩ đã từng được các giải thưởng cũng được đứng trong ban giám khảo, thí dụ Léon Cogniet, Paul Delaroche, Decamps, Delacroix, Ingres, Robert-Fleury, Isabey, Meissonier, Corot, Abel de Pujol, Picot…
Sau Cách-mạng, dưới thời đệ Nhất Cộng-hòa, Salon được tổ chức hàng năm, sau đó đổi thành hai năm một lần dưới thời Đế-chế. Bắt đầu từ năm 1863, trước những thành công vĩ đại, Salon được tổ chức trở lại hàng năm, triển lãm trung bình 2000 tác phẩm. Năm 1870, con số tác phẩm lên đến 5409 !
b. Triển lãm hội họa bị từ chối (Salon des Réfusés) :
Năm 1863 mở ra cuộc “Triển lãm hội họa bị từ chối” (Salon des Réfusés), bao gồm những tác phẩm bị ban giám khảo của Salon loại bỏ. Triển lãm này được cho phép bởi Napoléon III (1808-1873), nhằm “…để cho công chúng quyền phán đoán tính hợp pháp của mọi sự khiếu nại…” . Trong các tác phẩm bị từ chối này có bức “Le bain” (Tắm) của họa sĩ lừng danh Edouard Manet ! “Triển lãm hội họa bị từ chối” còn được tổ chức vào những năm 1874, 1875, 1886… Năm 1881, triển lãm này không còn được sự ủng hộ chính thức của chính phủ nữa.
c. Hội Nghệ sĩ Pháp (Société des Artistes Français) : Năm 1881, dưới thời đệ Tam Cộng-hòa, Bộ trưởng Học-chính và Mỹ-thuật Jules Ferry quyết định chính quyền không can thiệp vào các cuộc triển lãm nghệ thuật nữa, từ đó lập ra “Hội Nghệ sĩ Pháp” với một ủy ban gồm 90 thành viên phụ trách công việc này.

“Hội Nghệ sĩ Pháp” có thể nói là đóng một vai trò rất quan trọng trong nền nghệ thuật Pháp, có ảnh hưởng và quyết định đến tương lai và “số phận sống còn” của nhiều tác phẩm cũng như tác giả. Chỉ cần xem những lên án nghiêm khắc về việc chọn lựa tranh của “Hội Nghệ sĩ Pháp” được văn hào Émile Zola ghi lại trong quyển Tác phẩm (L’œuvre) thì đủ hiểu.
d. Hội Mỹ thuật quốc gia (Société nationale des Beaux-Arts) : Năm 1889, sự bất đồng ý kiến giữa các nghệ sĩ dẫn đến sự thành lập “Hội Mỹ thuật quốc gia” (Société nationale des Beaux-Arts) do Puvis de Chavannes, Carrière, Carolus Duran…, tổ chức triển lãm tại quảng trường Champ-de-Mars (gần tháp Effel) chứ không ở Louvre .
Bắt đầu từ năm 1900, hai hiệp hội kình địch trên hàn gắn mọi rạn nứt, bắt tay kết hợp nhau để cùng triển lãm tại Đại Cung-điện (Grand-Palais des Champs-Elysées). Đến năm 1940 “Hội Mỹ thuật quốc gia” đóng cửa trong khi “Hội Nghệ sĩ Pháp” vẫn còn hoạt động tại Đại Cung-điện cho đến ngày nay.
e. Hội họa sĩ xu hướng Đông phương (Société des Peintres orientalistes) : Năm 1893, “Hội họa sĩ xu hướng Đông phương” được thành lập tại Paris với mục đích tìm hiểu và trình bày nền văn hóa và nghệ thuật Đông-phương, đặc biệt là các nước Hồi giáo. Léonce Bénédite, sử gia nghệ thuật và quản đốc bảo tàng Luxembourg được bầu làm Chủ tịch cho đến khi mất vào năm 1925. Trong những sáng lập viên, chúng ta có Maurice Bompard, Eugène Girardet, Paul Leroy, Étienne Dinet… Hội có những Chủ-tịch Danh-dự như Jean-Léon Gérôme, Benjamin Constant, hội tụ nhiều thành viên danh tiếng như Emile Bernard, Charles Cottet, Albert Lebourg, Renoir…
“Hội họa sĩ xu hướng Đông phương” tổ chức triển lãm hàng năm, bị gián đoạn trong Thế chiến thứ nhất. Năm 1897, hội lập ra một giải thưởng dành cho họa sĩ trẻ trên đất thuộc địa Pháp tại châu Phi. Alcide Bariteau là họa sĩ đầu tiên được giải này. Hội còn tham dự những cuộc triển lãm lớn của chính quyền, như triển lãm Hoàn-cầu (Expositions Universelles) hoặc triển lãm Thuộc-địa (Expositions Coloniales)… Hội đạt được tuyệt đỉnh vinh quang từ năm 1910, đặc biệt với hơn 1000 tác phẩm trưng bày năm 1913.
Sau khi Chủ tịch Léonce Bénédite qua đời, “Hội họa sĩ xu hướng Đông phương” bước vào giai đoạn suy tàn, năm 1927 đến 1933 không tổ chức được một cuộc triển lãm nào cả. Triển lãm lần cuối cùng là vào năm 1948.
f. Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp (Société coloniale des Artistes Français) : Tại Triển lãm Thuộc địa Marseille năm 1906, họa sĩ Louis Dumoulin, phụ trách và cố vấn mỹ thuật, khơi lên trong lòng các họa sĩ sức lôi cuốn hấp dẫn của văn minh và phong cảnh các nước thuộc địa. Sau đó, với sự tài trợ của Bộ Thuộc địa cũng như các Toàn quyền và công ty hàng hải, Louis Dumoulin lập ra một số học bổng du lịch (bourses de voyage) với phương châm “sự phát triển thuộc địa bằng nghệ thuật đem lại nhiều ích lợi cho nghệ thuật và chính quốc Pháp” .
Theo phương châm đó , “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” được thành lập năm 1908 và ngay lập tức trở thành “đối thủ” của “Hội họa sĩ xu hướng Đông phương”. Hội được sự bảo trợ của Nha Học Chánh Ðông Pháp và bộ Nghệ-thuật, bộ Thuộc địa và bộ Nội-vụ. Điểm chính yếu của “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” là số học bổng du lịch rất quan trọng mà Hội đã trao tặng cho người đoạt giải để đi tham quan tìm hiểu văn hóa tại các nước thuộc địa.
Năm 1946, “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” trở thành “Hội Mỹ-thuật Pháp-quốc Hải-ngoại” (Société des Beaux-Arts de la France d’Outre-Mer), vì chữ “thuộc địa” dần dần bao hàm ý nghĩa xấu xa. Năm 1960 tình trạng thuộc địa bắt đầu chấm dứt, Hội lại đổi tên là “Hội Mỹ-thuật Hải-ngoại” (Société des Beaux-Arts d’Outre-Mer).
Dù có mở salon hay không, Hội vẫn trao tặng học bổng du lịch hàng năm. Chỉ bắt đầu từ năm 1929, Hội mới mở salon mỗi năm đều đặn. Ngoại trừ học bổng du lịch, Hội còn trao nhiều giải thưởng khác nhau, trong đó có giải thưởng Đông-dương (prix de l’Indochine). Chính “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” đã sáng lập Bảo-tàng Mỹ-thuật Casablanca (Maroc).
g. Hội nghệ sĩ độc lập (Société des Artistes Indépendants) : Từ năm 1870, vì không thích nghi và không chịu gò bó theo tính cách nghiêm khắc hàn lâm cổ điển của Salon, các họa sĩ theo trường phái ấn tượng tổ chức những triển lãm riêng. Năm 1884, Albert Dubois-Pillet, Odilon Redon, Georges Seurat, Paul Signac, Guimard và một số bạn hữu Paul Cézanne, Paul Gauguin, Henri de Toulouse-Lautrec, Camille Pissarro, Henri Matisse, Vincent van Gogh… thành lập “Hội nghệ sĩ độc lập”, với chủ trương không cần giám khảo và không trao giải thưởng. Hội mở cuộc triển lãm đầu tiên vào ngày 01/12/1884 và sau đó đều đặn hàng năm. Các tác phẩm có khuynh hướng tượng-trưng, fauvisme, nabis, lập thể…, xuất hiện trong những triển lãm này.
Ngày nay, “Hội nghệ sĩ độc lập” vẫn còn hoạt động và mở triển lãm hàng năm.
h. Triển lãm mùa Thu (Salon d’Automne) : Ngày 31/10/1903, theo khởi xướng của điêu khắc gia Belge Franz Jourdain và một số bạn hữu, “Triển lãm mùa Thu” được sáng lập và tổ chức triển lãm tại Tiểu Cung-điện (Petit-Palais). Salon có hai mục đích : mở đường cho các họa sĩ trẻ và mang trường phái ấn tượng hòa nhập vào tâm hồn dân chúng. Salon chọn mùa thu để các họa sĩ giới thiệu những tác phẩm vừa được thực hiện dưới nắng hè rực rỡ, và quan trọng hơn là không trùng với các Salon của “Hội Nghệ sĩ Pháp” (Société des Artistes Français) và “Hội Mỹ thuật quốc gia” (Société nationale des Beaux-Arts), cả hai đều triển lãm vào mùa xuân.
Trước những thành công rực rỡ, năm 1904, “Triển lãm mùa Thu” rời Tiểu Cung-điện bước chân sang Đại Cung-điện , sánh vai với các họa sĩ Matisse, Manguin, Marquet, Camoin…, triển lãm giới thiệu 33 tác phẩm của Paul Cézanne, 62 Odilon Redon và 35 Auguste Renoir !
Triển lãm 1905 đánh dấu một bước ngoặt lớn cho trường phái ấn tượng với rất nhiều sáng tác mạnh mẽ của giới trẻ.
“Triển lãm mùa Thu” hoạt động và mở triển lãm hàng năm cho đến ngày nay.
j. Các hội đoàn khác : Ngoài những triển lãm nói trên, chúng ta còn có “Triển lãm Tuileries” (Salon des Tuileries), thành lập năm 1923, cũng gặt hái được nhiều thành công, và “Hội Họa sĩ chuyên vẽ Động vật” (Société des Peintres Animaliers) có chỗ đứng riêng biệt.
Trường Mỹ thuật
1. Trường Cao-đẳng Mỹ thuật Quốc-gia Paris (École nationale supérieure des beaux-arts, gọi tắt là ENSBA)
Tập hợp một tổng thể rộng lớn, ở vị trí đối diện với điện Louvre, thuở ban đầu trường Mỹ thuật nằm trong viện Mỹ-thuật Hoàng-gia (Académie des Beaux-Arts), đặt dưới sự bảo trợ trực tiếp của hoàng đế Pháp. Ngày 13/11/1863, theo sắc lệnh của vua Napoléon III, trường trở thành tự lập và dựng ra chức vụ hiệu trưởng. Sau đó, trường phụ thuộc Nha Học-chính cho đến 26/10/1984. Ngày nay, trường Cao-đẳng Mỹ thuật Quốc-gia nằm trong cơ cấu chính quyền, thuộc bộ Thông-tin Văn-hóa.
Trường Mỹ thuật Paris chia ra làm ba ban :
– Hội họa và chạm trổ trên kim loại mềm .
– Điêu khắc và chạm trổ huy hiệu và đá quí.
– Kiến trúc.
Qua một cuộc tuyển sinh, trường mở ra hàng năm 17 giáo trình miễn phí cho sinh viên từ 15 đến 30 tuổi, với chương trình học 5 năm.
Mỗi năm, trường tổ chức nhiều triển lãm để ban giải thưởng. Giải La-Mã (prix de Rome) được xem là cao quý và danh giá nhất.
2. Trường Mỹ thuật tỉnh (Les écoles de Beaux-Arts de Province)
Từ thế kỷ thứ XIX, rất nhiều trường Mỹ thuật được thành lập tại các tỉnh ở đất Pháp. Các trường này thường theo khuôn mẫu của trường Mỹ thuật Paris. Đáng kể nhất là trường Marseille, Lyon hay Bordeaux.
3. Các xưởng họa (Les ateliers d’artistes)
Một loại “trường học” chính thức hoặc bán chính thức do các giáo sư trường Mỹ thuật mở ra, là nơi đào tạo lý tưởng cho các họa sĩ trẻ có cơ hội đối chiếu các quan niệm và lý thuyết của thầy hòng thu thập được một kỹ thuật chắc chắn và phát triển phong cách riêng của mình. Danh tiếng của “trường” thường tùy thuộc vào danh tiếng của giáo sư, đáng kể là “Xưởng họa Julian” (l’Académie Julian, thường được viết là Jullian), thành lập bởi Rodolphe Julian (1839-1907) vào năm 1868, thu nhận rất nhiều học sinh đến từ khắp nước trên thế giới, nhất là Hoa-kỳ. Đầu thế kỷ XX, “Xưởng họa Julian” vang danh đến nỗi có thể giới thiệu một số học sinh tranh giải La-Mã !
4. Trường Mỹ thuật Quốc-gia Alger (École Nationale des Beaux-Arts d’Alger)
Thành lập năm 1843, đầu tiên chỉ là một trường dạy vẽ (dessin). Đến năm 1848, là trường học thành phố và chính thức trở thành trường Mỹ thuật Quốc-gia Alger vào năm 1881. Các lớp học được mở miễn phí và sinh viên không cần qua cuộc tuyển sinh.

5. Trường Mỹ thuật Tunis (École des Beaux-Arts de Tunis)
Thành lập năm 1923, dưới sự chỉ đạo của họa sĩ Antoine Armand Vergeaud từ năm 1927 đến 1949. Vào thập niên 30, học sinh đầu tiên người tunisie là họa sĩ chuyên về tiểu phẩm (miniature) Ali Ben Salem.
6. Trường Mỹ Thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine)
Đồng sáng lập bởi Victor Tardieu và Nam-Sơn Nguyễn văn Thọ vào năm 1924, trường Mỹ Thuật Đông Dương đã đưa hội họa Việt-nam vào một nền mỹ thuật có phong cách và chỗ đứng riêng biệt.
Theo khuôn mẫu của trường Mỹ thuật Paris, qua cuộc thi tuyển sinh, sinh viên là người đông-dương hoặc người pháp, đầu tiên trường Mỹ Thuật Đông Dương có một chương trình học là 3 năm, sau đó đổi thành 5 năm, đã đào tạo một lớp họa sĩ sáng danh hiện diện trong những triển lãm lớn trên toàn thế giới. Ngoài những môn học thường lệ như hội họa, chạm trổ, điêu khắc, kiến trúc, trường còn đưa vào chương trình học môn sơn mài thuần túy việt-nam.
Trường Mỹ Thuật Đông Dương đóng cửa vào năm 1945 để sau đó trở thành trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội cho đến ngày nay.
Đại triển lãm
Những cuộc triển lãm lớn có tầm vóc quốc tế tại Pháp từ thế kỷ 19 là Triển lãm Hoàn-cầu (exposition Universelle) và Triển lãm Thuộc địa (exposition Coloniale).
1. Triển lãm Hoàn-cầu (exposition Universelle)
Thịnh hành vào thế kỷ 19 như những hội chợ (đấu xảo) được tổ chức hàng năm tại các nước phát triển cao trên thế giới. Đầu tiên, triển lãm Hoàn-cầu chuyên chú vào sản phẩm công nông nghiệp, thí dụ triển lãm tại điện Công-nghiệp (Palais de l’Industrie) ở Paris năm 1855. Sau đó, dưới sự can thiệp của Nữ-hoàng Eugénie , triển lãm có thêm một chi nhánh về mỹ thuật và từ đó, hội họa bước chân vào Triển lãm Hoàn-cầu. Mỹ thuật được giới thiệu song song với khoa học và kỹ thuật.
Triển lãm Paris 1867 lần đầu tiên trưng bày một số hiện vật thuộc nghệ thuật Khmer. Triển lãm Paris 1878 có dựng một đình và một ngôi nhà kiểu đông-dương
Triển lãm Paris 1889 trùng hợp với việc khai mạc Bảo tàng Đông-dương ở Trocadéro (Musée indochinois du Trocadéro), cũng là cơ hội xây dựng tháp Effel nổi tiếng cho đến ngày nay, một danh thắng được nhiều du khách thăm viếng nhất thế giới. Bắt đầu từ Luân-đôn năm 1892, tất cả các triển lãm Hoàn-cầu sau đó đều có ít nhất một khu dành riêng cho văn minh các nước thuộc địa và có thể nói rằng triển lãm ở Tervuren (Bỉ) năm 1897 càng phát triển nhiều hơn về phương diện này. Triển lãm Paris 1900 lỗi lạc một cách đặt biệt…
Triển lãm Hoàn-cầu vẫn còn được tổ chức cho đến ngày nay.
2. Triển lãm Thuộc địa (exposition Coloniale)
Ba cuộc Triển lãm Thuộc địa năm 1906, 1922 và 1931 có ảnh hưởng quan trọng, làm thay đổi cái nhìn của người Tây phương đối với nền văn minh các nước thuộc địa. Tuy nhiên, chúng ta không thể không nói đến những tuyên truyền chứng tỏ quyền lực tối cao của chính quyền thực dân, đã khơi lên nhiều phẫn nộ trong quần chúng Pháp và châu Âu cũng như tại các nước thuộc địa, đến nỗi các triển lãm ấy bị người ta nhạo báng rằng đó là “vườn thú nhân loại” (zoo humain) (sic).
a. Triển lãm năm 1906 tại Marseille từ ngày 15/4 đến 15/11, dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Jules Charles-Roux, với khách mời danh dự là vua Sisowath 1er (Khmer). Cuộc triển lãm sẽ không có tiếng vang nếu không có những bức tranh vẽ các vũ công của đoàn vũ cung đình Khmer, do điêu khắc gia danh tiếng Auguste Rodin thực hiện trong dịp này .
b. Triển lãm năm 1922 tổ chức tại Marseille từ tháng 4 đến tháng 11, đặt trong khung cảnh tầng 3 của đền Đế Thiên Đế Thích (Angkor Vat) được tái tạo huy hoàng to lớn như thật. Trong triển lãm có sự tham dự của vua Khải Định, ăn mặc lố lăng và làm nhiều trò đến nỗi Phan Chu Trinh đã phải viết tờ “Thất điều trần” gồm 7 điều khuyên vua Khải Định về nước gấp, đừng làm nhục quốc thể.

c. Triển lãm năm 1931 được tổ chức tại rừng Vincennes (Paris) từ ngày 06/5 đến 15/11, dưới sự lãnh đạo của thống chế Lyautey. Không chỉ tầng 3 mà toàn cảnh với 5 tháp đền Đế Thiên Đế Thích được tái tạo một cách tráng lệ trước cổng danh dự. Ngoài ra, các nước tham dự còn dựng lên những đền đài, đình chùa, nhà cửa…, giới thiệu văn hóa và con người của quốc gia mình, tạo một bầu không khí ngỡ ngàng thần tiên cho triển lãm 1931. Đây là một triển lãm to lớn chưa từng có, đã quyến rũ hơn 33 triệu khán giả. “Hội họa sĩ xu hướng Đông phương” và “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” cũng tham dự trong triển lãm này. Riêng về Đông-dương, các họa sĩ có tác phẩm trưng bày là Nam Sơn, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, Georges Khánh, Lê Văn Đệ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu…
Giải thưởng hội họa
1. Giải thưởng Triển lãm Nghệ sĩ Pháp (Prix du Salon des Artistes Français)
Giải thưởng này gọi tắt là “Giải thưởng Salon” (Prix du Salon), được đặt ra năm 1874 cho một họa sĩ (hoặc điêu khắc gia từ năm 1877) dưới 32 tuổi, được giám khảo chấm rằng “có khả năng thấu hiểu được sự giáo dục của những bậc thầy dạy theo phương pháp hàn lâm cổ điển”. Quà tặng là một thời gian tìm hiểu nghệ thuật ở Rome (Ý). Năm 1953, điều kiện giới hạn tuổi được hủy bỏ. Ngoài Giải thưởng Salon còn có Huy chương hạng Nhất, Nhì và Ba.
Bắt đầu từ năm 1881, song song với việc thành lập “Hội Nghệ sĩ Pháp” (Société des Artistes Français), Bộ trưởng Jules Ferry quyết định Giải thưởng Salon không còn do sự phát xét của ban giám khảo mà do Hội đồng Mỹ-thuật tối cao (Conseil Supérieur des Beaux-Arts). Giải thưởng trao tặng hai năm du học trong đó một năm phải học tại nước Ý.
Điều kiện được đoạt giải thưởng này là phải có tác phẩm trưng bày tại “Triển lãm Nghệ sĩ Pháp” (Salon des Artistes Français) hoặc tại “Hội Mỹ thuật quốc gia” (Société Nationale des Beaux-Arts), hoặc từ 1924, tại “Triển lãm mùa Thu” hay “Triển lãm Tuileries”.
Người đoạt giải phải gửi cho Nha Mỹ-thuật bảng báo cáo hàng năm trình bày tiến triển quá trình nghiên cứu, học hỏi và những điều gây ấn tượng cho họ trong chuyến du học.
Từ năm 1897, “Giải thưởng Salon” trở thành “Giải thưởng Quốc-gia” (Prix National)

2. Giải thưởng La-mã (Prix de Rome et la Villa Médicis)
Có thể nói đây là Giải thưởng cao quí tuyệt vời được các nghệ sĩ khao khát nhất, sáng lập năm 1663 dưới triều Louis XIV, thường được gọi là giải Khôi-nguyên La-mã. Giải thưởng do Hàn-lâm-viện Hoàng-Gia (L’Académie Royale) tổ chức, dành cho họa sĩ, điêu khắc gia, kiến trúc sư hay nhà chạm trổ (năm 1803, thêm nhạc sĩ), với một cuộc tuyển chọn vô vàn khó khăn, qua 3 thử thách từ vài giờ cho đến 72 ngày. Giải Khôi-nguyên (Grand Prix) là 4 năm du học ở Rome, nội trú tại cung điện Mancini (năm 1803, dời sang Biệt-thự Médicis, trụ sở Hàn-lâm-viện Pháp tại Rome do Colbert thành lập từ năm 1666), dưới kinh phí của hoàng đế Pháp. Có thể gia hạn thêm thời gian nếu đạt kết quả tốt.
Rome được xem là cội nguồn của cái đẹp thuần túy.
Thông thường hàng năm chỉ có một giải thưởng Lớn (Grand Prix) được trao tặng, nhưng cũng có trường hợp một năm có nhiều nghệ sĩ đoạt giải thưởng lớn này, thí dụ năm 1850 có hai người đoạt giải là Paul Baudry và William Bouguereau. Có năm không ai được đoạt giải.
Ngoài ra còn có giải thưởng lớn hạng Nhất (Premier Grand Prix), được du học 3 năm tại Rome, và giải thưởng lớn hạng Nhì (Second Grand Prix) cũng được du học tại Rome nhưng với thời hạn ngắn hơn, hoặc giải thưởng Danh-dự (mention honorable).
Với biến cố tháng 5/1968 tại Paris , Bộ trưởng Văn-hóa André Malraux hủy bỏ cuộc thi tuyển, thay vào đó là tuyển sinh bằng hồ sơ và giải thưởng là 6 đến 18 tháng, vẫn được cư ngụ tại Biệt-thự Médicis cho đến ngày nay.
Eugène Delacroix, Edouard Manet hay Edgar Degas là các danh họa đã từng qua cuộc thi tuyển này nhưng không được đoạt giải. Họa sĩ Jacques-Louis David đã muốn tự tử sau 3 năm thất bại.
Người Việt-nam duy nhất được giải thưởng Khôi nguyên La Mã (Grand Prix de Rome) là kiến trúc sư Ngô Viết-Thụ (1926-2000) , đoạt giải năm 1955, ông cư ngụ tại Biệt thự Médicis từ năm 1955 đến 1958 .
Người phụ nữ đầu tiên đoạt giải thưởng danh giá này là Odette Marie Pauvert vào năm 1925.
3. Giải thưởng Casa Vélazquez (Le concours de la Casa Vélasquez)
Giải thưởng Casa Vélazquez là một trong những giải thưởng của Viện Mỹ-thuật Pháp (Académie des Beaux-Arts), theo đề nghị của Charles-Marie Widor vào năm 1916, dưới triều Alphonse XIII. Nghệ sĩ đoạt giải sẽ cư ngụ tại điện Vélazquez ở Madrid (Espagne) trong thời gian du học, cũng giống như tại Biệt thự Médicis ở Rome. Điện Vélazquez được dự định xây cất vào năm 1909, khánh thành năm 1928, bị cháy năm 1936 trong cuộc nội chiến. Trong thời gian này, hoạt động của điện Vélazquez được dời về thành phố Fès (Maroc), từ năm 1940 trở lại Madrid trong khi chờ xây cất cung điện mới vào năm 1958.
Giải thưởng Casa Vélazquez vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

4. Giải thưởng Villa Abd-el-Tif (Le concours de la Villa Abd-el-Tif)
Thành lập vào năm 1907 theo khuôn mẫu của hai giải thưởng nói trên, dưới sự thúc đẩy của Léonce Bénédite, chủ tịch “Hội họa sĩ xu hướng Đông phương” (Société des Peintres orientalistes) và Thống-đốc Toàn-quyền Claude Jonnart tại Algérie. Nghệ sĩ đoạt giải sẽ cư ngụ một, hai năm, hoặc nhiều hơn nữa dưới chi phí của chính quyền, tại Biệt-thự Abd-el-Tif (Alger). Tuyển chọn Giải thưởng Villa Abd-el-Tif kéo dài đến năm 1962 thì chấm dứt.
5. Học bổng du lịch (Les bourses de voyage)
Bắt đầu từ năm 1880 phát triển việc trao học bổng du lịch cho nghệ sĩ đi đến vùng đất lạ để nghiên cứu, đạt đến tột đỉnh là năm 1930. Học bổng đóng vai trò quan trọng cho nghệ sĩ phát huy phong cách và đề tài mới. Hội đồng tối cao của trường Mỹ-thuật Paris trao hàng năm 9 học bổng cho các tác phẩm lỗi lạc trưng bày các triển lãm. Phần lớn học bổng đi du lịch lại Bắc Phi. Bộ Hàng-hải, bộ Thuộc-địa hay Quân-đội, ngay cả tòa Thị Chính Paris cũng có thể trao học bổng du lịch. Các công ty, nhất là công ty vận chuyển cũng trao học bổng du lịch, thí dụ công ty Vật-tải Hàng-hải (Messageries Maritimes) trao tặng học bổng và vé miễn phí khứ hồi.
6. Các giải thưởng khác
Năm 1908 thành lập giải thưởng Tây-phi Pháp-quốc (prix de l’Afrique Occidentale Française). Năm 1910, giải thưởng Đông-dương (prix de l’Indochine). Năm 1913, giải thưởng Madagascar (prix de Madagascar). Năm 1919, giải thưởng Maroc và Tunisie (prix du Maroc et de la Tunisie) . Năm 1924, giải thưởng Trung-phi Pháp-quốc (prix de l’Afrique Équatoriale Française)…
Giải thưởng Đông-dương (Prix de l’Indochine)
Trong bối cảnh lịch sử và cơ cấu tổ chức ấy, giải thưởng hội họa Đông-dương (Prix Indochine) ra đời…
Giải thưỏng Đông-dương do Toàn quyền Đông-dương Antony Wladislas Klobukowski ban nghị định năm 1910, theo đề xướng của “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” (Société Coloniale des Artistes français), với ý định tuyên truyền và phát khởi nghệ thuật phương Tây nói chung và nước Pháp nói riêng tại Đông-dương, khuyến khích các nghệ sĩ đến các nước thuộc địa, canh tân niềm cảm hứng trong việc sáng tác, sau đó mang về Pháp những tìm hiểu và học hỏi mới để thắt chặt mối quan hệ giữa các nước thuộc địa với chính quốc . Giải thưởng này đã ban cho 21 họa sĩ, đầu tiên là Ferdinand Olivier (1873-1956) và cuối cùng là Louis Bâte (1898-1948).
1. Giải thưởng Đông-dương trước khi trường Mỹ-thuật Đông-dương ra đời
Họa sĩ có tác phẩm trưng bày tại triển lãm “Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp” sẽ qua một cuộc tuyển chọn, người đoạt giải được trao tặng một năm du lịch nghiên cứu, cộng thêm vé hạng nhất khứ hồi, một tài trợ là 1.200 đồng Đông-dương và đi lại miễn phí trên toàn Đông-dương. Xin lưu ý là đầu thế kỷ, 1 đồng Đông-dương trị giá 3 quan Pháp. Từ năm 1925 đến 1927, tỉ giá trung bình là 14 quan Pháp. Từ tháng 5/1930 đến năm 1939, đồng Đông-dương theo tỉ giá kim-bảng-vị (giá vàng) và cố định là 10 quan Pháp .
Các họa sĩ được đoạt giải là :
1910 – Ferdinand Olivier (Martigues 1873 – 1957).
1911 – François de Marliave (Toulon 1874 – Draguignan 1953).
1912 – Augustin Carréra (Madrid 1878 – Paris 1952).
1913 – Martinien Salgé (Marseille 1878 – Jouques 1946).
1914 – Charles-Dominique Fouqueray (Le Mans 1869 – Paris 1956)
Vào thời kỳ đại thế chiến thứ nhất (1914-1918), việc phát giải thưởng Đông-đương bị gián đoạn cho đến năm 1920.
1920 – Victor Tardieu (Lyon 1870 – Hà Nội 1937).
1921 – Paul Jouve (Marlotte 1878 – Paris 1973).
1922 – Antoine Ponchin (Marseille 1872 – 1934).
1923 – Georges Michel, còn gọi là Géo Michel (Paris 1885 – ?)
1924 – Jean Bouchaud (Saint-Herblain 1891- Nantes 1977).
2. Giải thưởng Đông-dương sau khi trường Mỹ-thuật Đông-dương ra đời
Theo khởi xướng và đề nghị của Nam Sơn, họa sĩ Việt-nam, mà Victor Tardieu, giải thưởng Đông-dương năm 1920, trong một bản phúc trình dưới cái tên “Nghệ thuật An-nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai” đã đề cập với chính quyền thuộc địa vấn đề mở ra một trường Mỹ-thuật tại Đông-dương.

Bản phúc trình này được chuẩn y bởi Toàn-quyền Martial-Henri Merlin. Ngày 27 tháng 10 năm 1924, xuất hiện trong Công báo (Journal Officiel) nghị định thành lập một ngôi trường dưới tên trường Mỹ-thuật Đông-dương. Ngôi trường này sẽ được dựng lên tại số 102 đường Reinach, gần trường Viễn-đông Bác-cổ, trực hệ Giáo-đoàn Pháp (l’Université de France) tại Hà-nội, dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của nha Học-chính, với Victor Tardieu là hiệu trưởng.
Từ ấy, theo ý muốn của chính quyền và trường Mỹ-thuật Đông-dương, giải thưởng Đông-dương được cải cách, họa sĩ đoạt giải có thời gian nghiên cứu là hai năm chứ không còn là một năm như trước. Năm đầu tiên dành cho việc tham quan, tìm hiểu, học hỏi và ghi lại những ấn tượng qua tranh vẽ, được học bổng là 400 đồng Đông-dương mỗi tháng. Năm còn lại giữ chức vụ giảng dạy tại trường Mỹ-thuật Đông-dương, được học bổng là 350 đồng Đông-dương mỗi tháng và nơi cư ngụ miễn phí ở Hà-nội. Trước khi lên đường trở về Pháp, một cuộc triển lãm tranh của họa sĩ sẽ được tổ chức tại Hà-nội và Sài-gòn.
Các họa sĩ được đoạt giải là :
1925 – Jules Gustave Besson (Paris 1868 – ?).
1926 – Paul-Émile Legouez (Elbeuf 1882 – ?).
1927 – Raymond Virac (Madrid 1892 – Madagascar 1946).
1928 – Henri Dabadie (Pau 1867 – 1949).
1929 – Lucien Lièvre (Paris 1878 – ?).
1930 – Louis Rollet (Paris 1895 – 1944).
1931 – Léon Félix (Périgueux 1869 – ?).
Bắt đầu từ năm 1932, giải thưởng hội họa Đông-dương được phát hai năm một lần.
1932 – Évariste Jonchère (Coulonges-les-Hérolles 1892 – Paris 1956). Évariste Jonchère sẽ là người giữ chức vụ Hiệu trưởng trường Mỹ-thuật Đông-dương sau khi Victor Tardieu qua đời tại Hà-nội năm 1937.
1934 – Georges Barrière (Bourgogne 1881 – Đồ-sơn 1944).
1936 – Jean Despujols (Gironde 1886 – Shreveport 1965).
1938 – Louis-Robert Bâte (Bordeaux 1898 – 1948).
Năm 1939, Adolf Hitler đưa hoàn cầu vào chiến lửa, thế chiến thứ hai bùng nổ (1939-1945), tiếp theo đó là cuộc chiến tranh Đông-dương (1946-1954), giải thưởng hội họa Đông-dương qua đời theo biến cố lịch sử.
Chân thành cảm tạ ông Christian Billet, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Pháp
(Société des Artistes Français)
đã dành thì giờ quí báu trao đổi ý kiến và giúp chúng tôi tài liệu.
Pháp quốc, thành phố hoa Xoan, 08.2006
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim-Khôi
