Vào cuối thế kỷ thứ 19, gần 30 mươi năm trước trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, nước Việt Nam đã có một họa sĩ dùng kỹ thuật sơn dầu để hình thành những họa phẩm mà đến nay vẫn còn tồn tại, đó là họa sĩ Lê Văn Miến.
Trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương ra đời vào năm 1925 đã mở ra một chân trời mới lạ đối với người yêu thích nghệ thuật nước nhà. Các họa sĩ Việt Nam bắt đầu làm quen với những phong cách tân kỳ như phối cảnh, hình khối, màu sắc, ánh sáng…, và nhất là làm quen với một chất liệu vô cùng kỳ diệu trong nghệ thuật vẽ tranh : Sơn dầu.
Dùng sơn dầu để vẽ tranh là một kỹ thuật hoàn toàn xa lạ đối với người Việt chúng ta. Thời ấy, sơn dầu chỉ chủ yếu dùng trong việc sản xuất sơn mài (thủ công trang trí đồ vật như tủ, hộp, tráp, bao gươm, tượng, hoành phi, câu đối, bình phong…)
Vào đầu tháng 11 năm 1963, người ta khám phá tại gia đình ông Nguyễn Cẩm, số 47 phố Hàng Bông thợ nhuộm, Hà Nội, có lưu giữ một bức tranh đã rất cũ, được đặt trên bàn thờ tổ tiên, vẽ chân dung một cụ già qua nét sơn dầu.

Sau nhiều thăm dò và tìm hiểu, một kết luận đã được đưa ra : Bức tranh sơn dầu ấy được vẽ năm 1898, gần 30 mươi năm trước khi trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương chào đời, tựa là “Chân dung cụ Tú Mền“, tác giả tên là Lê Văn Miến.
Lê Văn Miến hay Lê Huy Miến ?
Riêng về cái tên, cũng có nhiều điểm cần xét lại. Theo quyển “100 họa sĩ và nhà điêu khắc Việt Nam thế kỷ XX” [1], ghi rằng ông tên Lê Văn Miến. Các anh em của ông đều có chữ lót là “Huy”, như hai người anh tên Lê Huy Sáng, Lê Huy Thản, em tên Lê Huy Bái… Hơn nữa, con trai ông tên Lê Văn Chương cũng chấp nhận tên Lê Huy Miến của cha mình [2].
Dù sao, Lê Văn Miến hay Lê văn Miến cũng chỉ là một người.

Cuộc đời Lê Văn Miến
Xuất thân từ một gia đình vọng tộc, dòng dõi thanh thế quan lại, Lê Văn Miến chào đời năm 1873 tại xã Nghi Thuần, làng Kim Khê, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là xóm Sào Nam, xã Nghi Long). Cha ông tên là Lê Năng Nghiêm [1], dưới triều Nguyễn thăng trầm nhiều chức quan, lớn nhất là Án sát tỉnh Hải Dương (Sơn Tây). Lúc mới làm quan, Lê Năng Nghiêm giữ chức vụ Huấn đạo tại huyện Quảng Điền, có nhiều học trò nổi tiếng về sau như Hoàng Liên, Hoàng Thông, Nguyễn văn Mại… Sau khi Pháp chiếm Bắc kỳ, Lê Năng Nghiêm lấy lý do về quê để tang rồi ở lại nhà luôn, không muốn cộng tác với quân xâm lược.
Là con thứ ba trong gia đình gồm 6 trai, 5 gái, thuở nhỏ Lê Văn Miến theo Hán học như các thiếu niên cùng trang lứa, đã nổi tiếng học đâu nhớ đó. Ngoài học chữ, ông còn học được nhân cách từ người cha ngang tàng đáng kính, đặc biệt là mở rộng tầm mắt để sớm hiểu được sự an nguy của nước nhà, cùng những khắc khoải của người nghĩa khí khi triều Nguyễn suy vong. Tuy học giỏi nhưng Lê Văn Miến bỏ nhiều khoa không ra ứng thí, phải chăng vì đất nước sa vào vòng thực dân, ông chán cảnh khoa cử để thăng quan tiến chức, vinh thân phù gia ?
Vào năm 1892, triều đình Huế (Đồng Khánh) chọn 3 người con của 3 quan chức, gửi sang Pháp đi học trường Thuộc Địa (École Coloniale) tại Paris [2]. Gia đình quan Án sát Lê Năng Nghiêm lúc đầu định chọn một trong hai người con trai lớn là Lê Huy Sáng hay Lê Huy Thản để sang Tây du học nhưng hai người này không chấp thuận. Người con thứ ba là Lê Văn Miến cũng không chịu đi, gia đình phải khuyên giải hết lời, cuối cùng ông đành chấp nhận. Cùng du học với ông là Hoàng Trọng Phu [3], con trai Tổng đốc Hải Dương Hoàng Cao Khải, và Thân Trọng Huề [4], con trai Tổng đốc Bình Phú Thân văn Nhiếp.
Thời gian học ở Paris, Lê Văn Miến sớm bộc lộ bản lĩnh và nhân cách của mình, đã lãnh đạo nhiều nhóm học sinh các nước thuộc địa khác đứng lên đấu tranh, đình công bãi khóa, gửi đơn tố cáo đến bộ Thuộc Địa, đòi quyền bình đẳng, chống Hiệu trưởng Etienne Aymonier. Cuộc đấu tranh từng bị cảnh sát đàn áp, tên Lê Văn Miến ghi đậm vào danh sách đen, ông gặp nhiều khó khăn trong bước đường học vấn, nhưng luôn được nhiều người kính nể, ngay cả học sinh Pháp, vì ông thường đứng hạng nhất trong lớp. Sau này, khi về nước Lê Văn Miến đã nói : “Không học thì thôi, mà đã học thì phải cố gắng học cho thiên hạ biết. Dù trong lĩnh vực nào, nhất là về học vấn, nếu muốn, thì người Việt Nam cũng không chịu thua kém một ai cả. Tôi không muốn học để làm quan, song học để dằn mặt người Pháp thì tôi sẵn lòng“.
Tốt nghiệp trường Thuộc địa tại Paris, Lê Văn Miến không trở về làm quan như hai người bạn đồng học. Vì yêu thích hội họa, và có lẽ mượn cớ để tránh cảnh bổng trầm trên hoạn lộ, ông đã quyết định ở lại theo học trường Mỹ Thuật Paris (École des Beaux Arts de Paris), dưới sự hướng dẫn của Jean-Léon Gérôme [1], một họa sĩ có khuynh hướng đông phương (orientalisme, xuất hiện trong bước đi của chủ nghĩa lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ thứ 19). Chính vì niềm đam mê hội họa này, Lê Văn Miến đã làm quen với nghệ thuật vẽ sơn dầu rất phổ biến tại châu Âu, nhất là Paris, đưa ông lên làm người đầu tiên vẽ tranh sơn dầu tại Đông Dương [2].
Ngày tháng học tại trường Mỹ thuật Paris, tuy không ngừng bị mật vụ cảnh sát làm khó dễ, Lê Văn Miến vẫn cố gắng theo bước đường hội họa, học hỏi cái đẹp của văn hóa Pháp, và trong những dịp nghỉ hè, ông có dịp mở rộng tầm mắt qua các cuộc thăm viếng các nước khác tại Châu Âu như Ý, Tây Ban Nha, Roumanie, Albanie… Vào năm 1894, tại Paris, Lê Văn Miến đã thực hiện bức sơn dầu “Chân dung cụ Nguyễn văn Mại“, chúng tôi sẽ nói đến sau.
Những nổ lực học hỏi của Lê Văn Miến đã được đền bù, năm cuối, ông được Hội đồng Mỹ thuật trường Mỹ thuật Paris cử sang Rome để học hỏi và trang trí cho tòa thánh Vatican. Niềm vui của ông không được trọn vẹn vì cuối cùng tên ông đã bị xóa khỏi danh sách do sự bác bỏ của Tổng trưởng Thuộc địa !
Lê Văn Miến du học 7 năm tại Pháp.
Hoạt động chính trị
Lên tàu trở về cố hương năm 1898, sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, Lê Văn Miến đặt chân trên bến cảng Sài Gòn, trong cảnh chen lấn hỗn độn, một thanh niên thuộc hoàng phái nước Cao Miên đã bị tát tai bởi một nhân viên cảnh sát Pháp. Trong tình hình căng thẳng, hai bên đã rút súng, Lê Văn Miến là một trong những người lên tiếng can ngăn [1], nhưng ông nhận ngay ra nỗi niềm người dân nhược tiểu, sự bất lực trước uy quyền của thực dân. Chính vì vậy, sau đó, khi triều đình Huế mời Lê Văn Miến ra làm quan tại bộ Công, ông từ chối, chỉ ngao du sơn thủy, vui thú yên hà.
Vào năm 1899, ông phụ trách một công việc khiêm tốn, vẽ minh họa cho nhà in Schneider, nhà in đầu tiên tại Hà Nội [2]. Ông làm việc tại đây khoảng trên dưới một năm, cùng với một đồng nghiệp tên Bùi Huy Tín
Tiếp theo đó, vào những năm đầu của thế kỷ thứ 20, do mối liên hệ mật thiết giữa hai họ Lê Đào, Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An/Hà Tĩnh) Đào Tấn [1] đã mời Lê Văn Miến về Vinh làm việc với mình. Năm 1902, Thành Thái triệu Đào Tấn về kinh nhậm chức Thượng thư bộ Công, Lê Văn Miến đã cùng theo, giữ chức vụ Hành tẩu bộ Công dưới quyền Đào Tấn, phụ trách công việc vẽ bản đồ và kiến trúc cho cung đình Huế. Công việc này đã đưa đẩy ông nhiều dịp gặp Thành Thái, cùng chí hướng chống Pháp, được vua tin dùng, bí mật giao cho ông nhiệm vụ vẽ mẫu súng bộ binh của phương Tây để đem thuê đúc, hòng trang bị cho đội nữ binh của vua trong nội phủ.
Sự thân cận của những người có đầu óc chống thực dân bị chính quyền bảo hộ Pháp nghi ngờ. Khi các bản vẽ vũ khí của Thành Thái bị phát hiện, vua giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ. Lợi dụng cơ hội này, Khâm sứ Pháp là Lévêque và Hội đồng Thượng thư vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, hạ lệnh cho đại thần Nguyễn Thân [2] bức Thượng thư Đào Tấn về hưu và đẩy Hành tẩu Lê Văn Miến về Nghệ An mở trường dạy học, đó là trường Pháp Việt đầu tiên tại Vinh. Thành Thái bị quản thúc tại điện Cần Chánh rồi sau lưu đày sang đảo Réunion.
Vào thập niên 1910, các phong trào Đông du, Đông kinh Nghĩa thục, Duy tân…, dâng lên mạnh mẽ và bùng nổ, cầm đầu bởi những chí sĩ ái quốc như Phan Bội Châu (1867 1940), Phan Chu Trinh (1872-1926). Tại Vinh, hưởng ứng các cuộc vận động văn hóa chống thực dân Pháp, Lê Văn Miến tham gia tổ chức Hoan Học hội [3] của vùng Nghệ An, dùng văn hóa tuyên truyền tư tưởng yêu nước trong toàn thể dân chúng.
Tại Nghệ An lúc ấy có quan Công sứ người Pháp tên là Sestier, đồng môn với Lê Văn Miến tại Pháp, vẫn có lòng mến mộ tài năng và tư cách của người bạn xứ An Nam. Biết trước là không thể tránh được cuộc đàn áp đẫm máu giữa mật vụ Pháp và các phong trào yêu nước, năm 1907, Sestier đã dùng tình bạn mời ông đến tòa Công sứ, đề nghị ông nên vào Huế nhậm chức giáo sư hội họa và pháp văn tại trường Quốc Học [4], để tránh nạn gia đình bị tàn sát. Nhà giáo Lê Văn Miến tại trường Quốc Học Huế trong thời gian này đã có người học trò tên Nguyễn Sinh Cung.
Sau khi phong trào Đông kinh Nghĩa thục tại Hà Nội bị chính quyền Pháp đàn áp và ngăn cấm [5], Hoan Học hội giải tán, để tránh khỏi việc sa vào vòng lưới của nhà cầm quyền thực dân, năm 1913, người trí thức Lê Văn Miến không tìm được con đường giải thoát nào khác hơn là chấp nhận lời mời của triều đình nhà Nguyễn, đảm nhận vai trò trợ giáo tại trường Hậu Bổ (trường Sĩ Hoạn, École des Mandarins) ở Huế [6], phụ trách dạy các môn toán pháp.
địa dư…, đồng thời được thăng hàm “Hàn lâm viện thị giảng”. Đến cuối năm 1914 được thăng chức Phó Đốc giáo và năm 1919 được làm Đốc giáo. Tại đây, ông đã có những học trò như Lê Thước (1890-1975), Hà văn Đạt, Phan Phú Tiết, …
Năm 1923, Lê Văn Miến chuyển sang phụ trách trường Quốc tử giám, trở thành Tế tửu (Đốc học), dạy cả pháp văn. Thời gian này, nhân cách của Lê Văn Miến còn được thể hiện ở trong một kỳ thi tốt nghiệp, ông đã không ngần ngại đánh hỏng người cháu của Thượng thư bộ Lễ kiêm bộ Học, vì người này đem theo tài liệu vào phòng thi. Một lần khác ông không thiên vị tình riêng, đã đánh hỏng bài thi của người cháu gọi mình bằng chú ruột, làm cho quan trường và hội đồng thi rất kinh ngạc nhưng cũng rất kính phục.
Trong những năm Lê Văn Miến làm Tế tửu Quốc tử giám, triều đình Huế xảy ra rất nhiều biến loạn. Sau khi Thành Thái bị đày sang đảo Réunion, Duy Tân lên ngôi, mưu đồ chống Pháp, bí mật liên lạc với Thái Phiên, Trần Cao Vân…, công việc bại lộ, ngày 5/5/1916, Duy Tân cũng theo bước vua cha, bị chính quyền thực dân Pháp đày sang đảo Réunion. Tình hình chính trị tại triều đình Huế rất căng thẳng, Lê Văn Miến giữ thái độ im lặng và dè dặt trước những biến chuyển của thời cuộc, không xu thời cầu lợi danh, chỉ khuyên học trò : “Các anh còn ở trường thì cố gắng học cho đến nơi đến chốn, sau này ra trường rồi thì tùy các anh lựa chọn“. Đối với con cái trong gia đình, ông cũng chỉ bảo : “Chúng mày thấy phải thì cứ theo, cứ làm“. Đến nỗi khi con trai thứ (Lê văn Chương) bị tù vào năm 1928, vì tham gia hội “Thanh niên Tân Việt”, ông tuyên bố : “Nó không đi ăn cướp ăn trộm, thì tôi không xin ra, còn nó làm những việc gì khác, thì nhà nước biết, nhà nước cứ trị” [1].
Hoạt động của Lê Văn Miến luôn luôn bị mật thám Pháp theo dõi, ông như một cái gai trước mắt, chờ chực cơ hội để nhổ đi. Năm 1928, nhân bị nhọt ở lòng bàn tay, Lê Văn Miến vào bệnh viện Huế điều trị, bị tên bác sĩ thực dân tiêm cho mấy ống Acétylarsan, chữa được nhọt bàn tay nhưng gây hại đôi mắt. Ông về hưu vào tuổi 56, vì mắt bị mờ. Khi về hưu ông được thăng “Lễ bộ thượng thư trị sự Thiện đại phu”.
Hai bàn tay trắng và đôi mắt bệnh tật càng ngày càng nặng, Lê Văn Miến đưa gia đình về ở trọ nhà một người học sinh cũ tại làng Thế Chí Đông (huyện Phong Điền). Năm 1938, chuyển sang phường Thái Trạch, (thành nội Huế), trọ tại nhà học trò tên Lê Tứ. Thấy thầy mình đui mù già yếu mà cứ phải bấp bênh ở trọ, đầu năm 1940, một nhóm học trò quyên góp tiền mua cho thầy và gia đình một căn nhà cũ ba gian vách ván, cách Huế 30 km, tại phường Trạch Tả, tổng Phò Trạch.
Cuối đời, đôi mắt người họa sĩ đầu tiên vẽ tranh sơn dầu tại Việt Nam hoàn toàn bị mù, phải bỏ quên giấc mộng về già sẽ dành hẳn cuộc sống còn lại cho hội họa. Ông sống lặng lẽ và tăm tối bên cạnh giòng sông Ô Lâu, với ba người con trai, Lê văn Điệp, Lê văn Chương và Lê văn Yên.
Lê Văn Miến mất ngày 6/6/1943, hưởng thọ 71 tuổi. Chủ lễ chôn cất người thầy xưa là Nguyễn Tất Đạt (Cả Khiêm), học sinh trường Quốc Học, và Nguyễn Trác, học sinh trường Quốc Tử Giám. Mộ Lê Văn Miến chôn tại xứ Trường An, làng Phước Tích, cách ga Phò Trạch khoảng 3km [2]. Triều đình Huế truy tặng Lê Văn Miến hàm Tế tửu Quốc Tử Giám, Hiệp tá đại học sĩ, Vinh lộc đại phu. Hiện nay, ở Huế, tại phường Tây Lộc, có con đường mang tên ông.
Họa sĩ Lê Văn Miến (1873-1943) cuộc đời và tác phẩm – Phần 2
